I. AI CẬP
1.1 Ai Cập cổ đại
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ
Văn minh Ai Cập)
Ramesses II (1279 - 1213
TCN) là là một trong những vị pharaon vĩ đại nhất của Ai Cập cổ đại.
Map of ancient Egypt, showing major cities and sites of the Dynastic period (c. 3150 BC to 30 BC)
Ai Cập cổ đại, hay
nền văn minh sông Nin, gắn liền với cư dân sống bên hai bờ
sông Nin tại
Ai Cập. Dòng sông Nin dài khoảng 6500
km, có bảy nhánh đổ ra
Địa Trung Hải, đã tạo ra nơi sản sinh ra một trong các nền văn minh sớm nhất
thế giới. Phần
hạ lưu sông Nin rộng lớn, giống như hình tam giác dài 700 km, hai bên bờ sông rộng từ 10 dến 50 km tạo thành một vùng
sinh thái ngập nước và bán ngập nước - một đồng bằng phì nhiêu với
động thực vật đa dạng và đông đúc. Hàng năm từ
tháng 6 đến
tháng 9, nước lũ sông Nin dâng lên làm tràn ngập cả khu đồng bằng rộng lớn và bồi đắp một lượng
phù sa khổng lồ, màu mỡ. Các loại thực vật chủ yếu như:
đại mạch,
tiểu mạch,
chà là,
sen,… sinh sôi nảy nở quanh năm. Ai Cập cũng có một quần thể động vật đa dạng và phong phú, mang đặc điểm
đồng bằng-
sa mạc như
voi,
hươu cao cổ,
sư tử,
trâu,
bò,
cá sấu, các loài
cá,
chim,…
Tất cả các điều kiện thiên nhiên ưu đãi đã góp phần hình thành nền văn minh Ai Cập sớm nhất. Các ngành nghề như đánh bắt cá,
nông nghiệp,
thủ công nghiệp và
thương nghiệp đều phát triển ngay từ 3.000 năm trước
Công nguyên. Đặc biệt, các
di sản kiến trúc đồ sộ và đạt đến một trình độ vươn lên tầm kỳ quan của thế giới như: các
kim tự tháp, các kiệt tác về
hội họa,
điêu khắc và nghệ thuật
ướp xác,…
Theo cách phân định thời gian của
Manetho
(thế kỷ 3 TCN) thì lịch sử Ai Cập cổ đại được chia ra thành Cổ, Trung
và Tân Vương quốc với 30 vương triều kéo dài khoảng từ cuối thiên niên
kỷ thứ 4 trước Công nguyên đến năm 332 trước Công nguyên. Vua của toàn
cõi Ai Cập thường có các vua chư hầu dưới quyền, nên các tài liệu
tiếng Pháp,
tiếng Tây Ban Nha,
tiếng Bồ Đào Nha dùng danh từ Cổ, Trung và Tân Đế quốc thay vì Vương quốc. Danh từ
pharaon bắt đầu được các vua Ai Cập cổ dùng từ
vương triều thứ 12 trở đi.
Pharaon có nghĩa là
ngôi nhà lớn
ám chỉ cung vua. Vẫn còn nhiều nghiên cứu về các vương triều Ai Cập
đang được tiếp tục và có thể các vương triều này sẽ còn thay đổi, bởi vì
ngày nay các công tác
khảo cổ vẫn tiếp tục phát hiện thêm nhiều dữ liệu, chứng cứ khác nhau.
Lịch sử qua các thời kì
|
|
Bài viết hoặc đoạn này cần thêm chú thích nguồn gốc để có thể kiểm chứng thông tin.
Những nội dung không có nguồn có thể bị đặt vấn đề và xóa bỏ.
Mời bạn bổ sung chú thích từ các nguồn đáng tin cậy để giúp cải thiện bài viết. |
Thời kỳ Tiền triều đại (13.000 TCN - 3.200 TCN)
- 13.000 TCN: Dân miền nam Ai Cập đã bắt đầu trồng lúa mạch.
- 7.000 TCN: Dân cư đồng bằng sông Nin đã biết canh tác.
- Khoảng 5500 TCN, các bộ lạc nhỏ sống trong thung lũng sông Nile đã
phát triển thành một loạt các nền văn hóa thể hiện qua việc làm chủ nông
nghiệp và chăn nuôi, và được nhận biết bằng gốm và các vật dụng cá
nhân, chẳng hạn như lược, vòng tay, và hạt. Lớn nhất trong số những nền
văn hóa đầu tiên ở Ai-cập, là văn hóa Badari, được biết đến với đồ gốm sứ chất lượng cao của nó, công cụ bằng đá, và sử dụng đồng.[1]
Ở miền Bắc Ai Cập, văn hóa Badari được theo sau bởi các nền
văn hóa Amratian và
Gerzean,
[2]
đã mang đến một số cải tiến kĩ thuật. Vào thời kì Gerzian, đã xuất hiện
những bằng chứng đầu tiên về sự tiếp xúc với Canaan và bờ biển Byblos.
[3]
- 5.000 TCN:Có xứ Ombos, kinh đô là Ballas ở miền nam Ai Cập (cũng gọi là Thượng Ai Cập). Miền bắc Ai Cập (Hạ Ai Cập) có xứ Balamun, kinh đô là Behedet.
- 4.500 TCN: Người Ai Cập đã biết dùng dương lịch mỗi năm có 365 ngày. Truyền thuyết cho rằng người đặt ra lịch đó là Thoth. Thoth cũng được cho là người đã đặt ra mẫu tự Ai Cập, toán học và thiên văn học[cần dẫn nguồn]. Người Ai Cập tôn ông là thần của thời gian.
- 4.000 TCN: Xứ Ombos chiếm xứ Balamun.
- 3.900 TCN: Xứ Ombos bị chia đôi: xứ Nekhein ở phía bắc và xứ Buto ở phía nam.
- 3.700 TCN: Người miền bắc Ai Cập bắt đầu biết dùng kim loại.
- 3.600 TCN: Xứ Nekhein ở miền bắc chiếm được xứ Buto ở miền nam. Họ định đô ở Heliopolis (Nhật Thành).
- 3.500 TCN: Ai Cập lại chia đôi: Nekhein giữ miền bắc, Buto độc lập ở miền nam.
- 3.300 TCN: Người phương đông tràn sang chiếm xứ Nekhein.
- 3.250 TCN: Vua xứ Buto là Scorpion II thắng được vua của Nekhein.
Thời kỳ Sơ triều đại (3.100 TCN - 3.000 TCN)
- 3.100 TCN: Con của vua Scorpion II là Menes (hay Horus Narmer) đánh đuổi được người phương đông, thống nhất Nekhein và Buto. Menes lập một triều đại mới, tức là vương triều thứ nhất, trong vương phổ của Manetho. Menes cũng được coi là người khai sinh ra nước Ai Cập.
- Vương triều thứ nhất: Menes xây dựng thành phố Memphis (Bạch Thành) lớn nhất thế giới thời đó. Ông đóng đô ở thành This. Vương triều thứ nhất có 7-9 đời vua và truyền được khoảng 300 năm. Các vua thời này thường đánh đông dẹp bắc. Menes có đánh Libya. Djer đã chiếm đất Sudan đến ghềnh thứ nhì của sông Nin. Den và Semerkhet đánh bán đảo Sinai.
Thời này các sử gia còn tranh luận nhiều về cách định năm. Phần đông
xếp cuộc thống nhất Ai Cập của Menes vào năm 3100 TCN. Có người xếp trễ
đến năm 2900 TCN. Tài liệu xưa của
Julius Africanus xếp sớm đến năm 5664 TCN.
Thời kỳ Cổ vương quốc (2.815 TCN - 2.400 TCN)
Những Tiến bộ lớn trong kiến trúc, nghệ thuật, và công nghệ đã được
xuất hiện vào thời kì Cổ vương quốc, thúc đẩy bởi năng suất nông nghiệp
tăng có thể do một chính quyền trung ương phát triển tốt.
[4] Một số thành tựu đỉnh cao của Ai Cập cổ đại,
kim tự tháp Giza
và tượng Nhân sư vĩ đại, đã được xây dựng trong thời Cổ vương quốc.
Dưới sự chỉ đạo của tể tướng, các quan chức nhà nước thu thuế, phối hợp
các dự án thủy lợi để nâng cao năng suất cây trồng, huy động nông dân
làm việc trong các dự án xây dựng, và thiết lập một hệ thống tư pháp để
duy trì hòa bình và trật tự.
[5]
Cùng với tầm quan trọng ngày càng tăng của một chính quyền trung
ương, đã phát sinh một tầng lớp mới bao gồm những quan kí lục có học
thức và các quan chức mà được ban phát đất đai bởi của các pharaoh đổi
lại cho sự phục vụ của họ.Các Pharaoh cũng thực hiện ban cấp đất đai cho
các giáo phái và các đền thờ địa phương để đảm bảo rằng họ có nguồn lực
để thờ cúng các vị vua sau khi ông ta qua đời.
Thời kỳ chuyển tiếp thứ nhất (2.400 TCN - 2.046 TCN)
Sau khi chính quyền trung ương của Ai Cập sụp đổ vào cuối thời Cổ
Vương quốc, chính quyền không còn có thể hỗ trợ hay giữ được sự ổn định
cho nền kinh tế của đất nước. Thống đốc các vùng không còn có thể dựa
vào nhà vua để được giúp đỡ trong thời gian khủng hoảng này, và tình
trạng thiếu lương thực cùng tranh chấp chính trị leo thang gây ra nạn
đói và các cuộc nội chiến quy mô nhỏ. Tuy nhiên, bất chấp những vấn đề
khó khăn, các quan chức địa phương, do không cống nạp cho các pharaoh,
sử dụng sự độc lập mới có được để thiết lập một nền văn hóa phát triển
mạnh ở các tỉnh. Một khi kiểm soát các nguồn tài nguyên của riêng mình,
các tỉnh đã trở nên giàu có hơn về kinh tế, một thực tế chứng minh bằng
sự chôn cất lớn hơn và tốt hơn trong tất cả các tầng lớp xã hội
[6]
Không bị ràng buộc bởi lòng trung thành của họ với pharaoh, các nhà
cầm quyền địa phương đã bắt đầu cạnh tranh với nhau để kiểm soát lãnh
thổ và quyền lực chính trị. Khoảng năm 2160 trước Công nguyên, các vị
vua ở Herakleopolis đã kiểm soát
Hạ Ai Cập,
trong khi một gia tộc đối thủ có căn cứ tại Thebes, gia đình Intef, nắm
quyền kiểm soát của Thượng Ai Cập. Vì nhà Intefs mạnh hơn và bắt đầu mở
rộng sự kiểm soát của họ về phía bắc, một cuộc đụng độ giữa hai triều
đại đối thủ đã không thể tránh khỏi. Khoảng năm 2055 trước Công nguyên,
phe Theban dưới quyền Nebhepetre
Mentuhotep II
cuối cùng đã đánh bại các vị vua Herakleopolis, thống nhất hai vùng đất
và mở ra một thời kỳ phục hưng kinh tế và văn hóa được gọi là thời
Trung vương quốc.
[7]
Thời kỳ Trung vương quốc (2.046 TCN - 1.750 TCN)
Amenemhat III, the last great ruler of the Middle Kingdom
Các pharaoh thời Trung vương quốc đã phục hồi sự thịnh vượng của đất
nước và sự ổn định, qua đó kích thích sự hồi sinh của nghệ thuật, văn
học, và các dự án xây dựng hoành tráng
[8] Mentuhotep II
và các vị vua kế tục của vương triều thứ 11 cai trị từ Thebes, nhưng
khi viên tể tướng Amenemhat I lên ngôi mở đầu cho triều đại thứ 12
khoảng năm 1985 trước Công nguyên, ông ta đã chuyển kinh đô của quốc gia
tới thành phố
Itjtawy nằm trong ốc đảo
Faiyum.
[9]
Từ Itjtawy, các pharaoh triều đại thứ 12 đã tiến hành một chương trình
cải tạo đất đai và chương trình thủy lợi để tăng sản lượng nông nghiệp
trong khu vực. Hơn nữa, quân đội còn tiến hành các chiến dịch quân sự
tái chiếm lại vùng lãnh thổ Nubia vốn giàu các mỏ đá và mỏ vàng, trong
khi nhân dân lao động xây dựng một công trình phòng thủ ở phía đông vùng
đồng bằng châu thổ, được gọi là "Trường thành của nhà vua", để bảo vệ
chống lại các cuộc tấn công từ nước ngoài.
[10]
Vị vua vĩ đại cuối cùng của thời kỳ Trung vương quốc,
Amenemhat III,
đã cho phép những người châu Á định cư trong khu vực đồng bằng để cung
cấp một lực lượng lao động đủ để cho việc khai thác mỏ và đặc biệt là
các công trình xây dựng của ông.
Thời kỳ chuyển tiếp thứ nhì (1.700 TCN - 1.590 TCN)
Khoảng năm 1785 trước Công nguyên, khi mà sức mạnh của các vị vua
thời Trung vương quốc suy yếu, những dân định cư châu Á sống ở thị trấn
Avaris ở miền đông đồng bằng châu thổ nắm quyền kiểm soát khu vực và
buộc chính quyền trung ương phải rút lui về Thebes, nơi các vị vua bị
coi là một chư hầu và đặc biệt là phải cống nạp
[11]
Người Hyksos ("Các vị vua nước ngoài") bắt chước mô hình của chính phủ
Ai Cập và miêu tả mình là pharaoh, do đó tích hợp các yếu tố Ai Cập vào
nền văn hóa
thời đại đồ đồng của họ.
[12]
The maximum territorial extent of Ancient Egypt (15th century BC)
Sau khi rút lui về phía nam, các vị vua Thebes thấy mình bị mắc kẹt giữa người Hyksos ở phía bắc và đồng minh Nubia của họ,
người Kushite.
Sau nhiều năm không động tĩnh, Thebes đã tập hợp đủ sức mạnh để có thể
thách thức người Hyksos trong một cuộc chiến sau đó kéo dài hơn 30 năm,
cho đến năm 1555 trước Công nguyên
[11] Các vị pharaoh
Tao II Seqenenre và
Kamose cuối cùng đã có thể đánh bại
người Nubia,
nhưng phải tới khi người kế vị của Kamose là Ahmose I lên ngôi, họ mới
thành công trong việc tiến hành một loạt các chiến dịch vĩnh viễn loại
trừ sự hiện diện của dân Hyksos ở Ai Cập. Vào thời kỳ Tân Vương quốc sau
đó, quân đội đã trở thành một ưu tiên trung tâm cho các pharaoh trong
việc tìm cách mở rộng biên giới của Ai Cập và bảo đảm sự thống trị của
họ ở vùng Cận Đông
[13]
Thời kỳ Tân vương quốc (1.590 TCN - 1.078 TCN)
1590 - 1310 trước Công nguyên
Tiếp theo đó, những người kế vị ông là
Thutmosis I,
Thutmosis II,
nữ hoàng Hatshepsut và
Thutmosis III ngự trên một đế quốc Ai Cập mở rộng đến
Palestine,
Israel,
Liban và một phần của
Syria. Sự chinh phạt của triều đại đưa Ai Cập đến những cuộc chiến với
đế quốc Mitanni ở Syria và
đế quốc Hittite ở
Thổ Nhĩ Kỳ. Vua
Tutankhamun
nổi tiếng với câu chuyện "lời nguyền của các pharaon" (nhiều người vào
mộ ông bị chết một cách đáng ngờ) và những di sản quý báu (tìm được
trong mộ của ông) được trưng bày nhiều nơi trên thế giới từ thế kỷ 20.
1.310 - 1.078 trước Công nguyên
- Vương triều thứ 19: Vizia Pramesse trở thành vua Ramesses I của vương triều thứ 19, còn gọi là “nhà Tiền Ramesses”. Những người kế vị là Seti I, Ramesses II tiến đánh Libya, Syria, Sudan, giao chiến với đế quốc Hittite và không ngừng xây dựng các công trình đồ sộ, điển hình như các ngôi đền từ Abu Simbel đến Karnak. Năm 1275 TCN Ai Cập giao chiến với đế quốc Hittite và liên quân 20 dân tộc tại Kadesh
ở Cận Đông. Tài liệu. Tài liệu Ai Cập cho là ông thắng trận nhưng ông
giảng hòa với Hittite, nhường vùng Kadesh cho Hittite và cưới công chúa
xứ này. Merneptah cũng khá tài giỏi, đánh đuổi được một liên quân xâm lược gồm người Libya, Licy, Sardes, Tyrsene và Achean đến từ phương Tây.
- Vương triều thứ 19 bị 1 người Syria tên là Bay soán ngôi. Được 5 năm, Setnakhte giết được bạo chúa Bay, ông lập ra vương triều thứ 20 còn được gọi là nhà “Nhà Hậu Ramesses”. Vương triều này thường phải đối chọi với các tấn công của Hải Nhân, và kết thúc sau khi vua Ramesses XI qua đời.
Thời kỳ chuyển tiếp thứ ba (1.078 TCN - 663 TCN)
- Vương triều thứ 21 do Smendes I lập lên Vương triều thứ 21 ở thành phố Tanis. Lúc ấy dòng dõi của quan trấn thủ Herihor
(hay thầy tế Amun) cai trị miền nam, đóng đô ở Thebes. Mặc dù họ nói
tiếng thần phục Tanis, nhưng thực chất họ là một nước độc lập. Trong
thời gian này, người Lybia đã được định cư tại khu vực đồng bằng châu
thổ phía tây, và thủ lĩnh của những người định cư bắt đầu gia tăng quyền
tự chủ của họ.
- Vương triều thứ 22 do Shoshenq I,
một người Libya, lập ra. Ông thống nhất Ai Cập và cưới một công chúa Ai
Cập để được dân bản xứ công nhận là chính thống. Sau khi vua Solomon của Do Thái mất, Shoshenq (được cho là Shishaq trong Kinh Thánh) đánh Do Thái vào khoảng 920 TCN và vào cướp kinh đô Jerusalem.
Shoshenq cũng đã giành được quyền kiểm soát miền nam Ai Cập bằng cách
đặt các thành viên gia đình của mình vào các vị trí thầy tế quan trọng.
Sự cai trị của người Libya đã bắt đầu bị xói mòn bởi một triều đại đối
thủ ở vùng đồng bằng , nổi lên ở Leontopolis và bị người Kushite đe dọa từ phía nam.
- Vương triều thứ 23 do Takelot II
lập ở miền trung và nam Ai Cập để chống với vương triều thứ 22 (khoảng
840 TCN). Một số sử gia lại cho người lập vương triều thứ 23 là Pedubast I,
người nổi lên ở miền nam Ai Cập khoảng 830 TCN để chống với cả Takelot
II lẫn vương triều thứ 22. Đến khoảng 760 TCN thì Ai Cập đã bị vỡ ra
nhiều nước nhỏ đánh nhau. Năm 730, vua Nubia (nay ở Sudan) là Piye vào chiếm Ai Cập. Trong đài chiến thắng của Piye còn đọc được tên 21 nước trên đất Ai Cập.
- Khi Piye rút về, Tefnakht nổi lên lập nhà Sais, tức vương triều thứ 24, và diệt hai vương triều 22 và 23, thống nhất Ai Cập.
- Em trai Piye là Shabaka nối ngôi anh khoảng 716 TCN, sang đánh đuổi nhà Sais, dời đô về Thebes, tức là vương triều thứ 25. Lúc bấy giờ, đế quốc Assyria ở Iraq đang bành trướng rất mạnh. Năm 701, quân của vua Assyria là Sennacherib
phá tan quân Ai Cập và liên quân 29 nước ở Altaqah. Shabaka chết trong
trận này. Con cháu của vương triều này mấy mươi năm sau không được kể là
vua Ai Cập nữa, nhưng tiếp tục cai trị Nubia thêm 350 năm.
Thời hậu nguyên (663 TCN - 332 TCN)
- Năm 672, Assyria vào đô hộ Ai Cập, và lập hậu duệ của nhà Sais là Necho I lên ngôi. Necho bắt đầu nhà “Hậu Sais” tức vương triều thứ 26. Lợi dụng lúc Assyria suy yếu, Necho I liên kết với các cường quốc trong vùng và lấy lại chủ quyền, nhưng bị Tantamani của Vương triều thứ 25 bắc phạt giết chết. Assyria trở lại đánh bại Tantamani và tàn phá kinh đô Thebes.
Sau đó, con trai của Necho I là
Psammetichus I khôi phục được đất nước. Trong thập niên 660 và 650 TCN, Psammetichus I liên kết với
Lydia
ở Thổ Nhĩ Kỳ để chống với Assyria. Nhưng đến 615-605 TCN, khi Assyria
suy yếu, bị liên quân Babylon và Media vây đánh, Psammetichus I và con
là
Necho II lại đem quân đi cứu. Nhưng các pharaon bị thất bại, Đế quốc Assyria bị diệt. Khoảng năm 586 TCN, pharaon
Apries lên nối ngôi. Ông ta nỗ lực đẩy lùi cuộc chinh phạt
Palestine và
Syria của đế quốc Babylon, nhưng không đem lại kết quả gì. Khoảng năm 580 TCN, Hoàng đế Babylon là
Nebuchadnezzar II đánh tan tác Quân đội Ai Cập, và củng cố quyền thống trị xứ Palestine. Về phía Tây, pharaon Apries đánh thuộc địa
Cyrene của người
Hy Lạp,
nhưng bại trận rút quân, khoảng năm 570 TCN. Ahmose làm binh biến, trở
thành pharaon Amasis II, khoảng năm 586 TCN. Vào năm 567 TCN, cựu vương
Apries cầu cứu Hoàng đế Nebuchadnezzar II, nhưng rồi pharaon Amasis đã
đập tan tác quân xâm lược Babylon và giết được cả Apries.
[14][15]
Ông được xem là một vị vua - chiến binh xuất sắc, là bậc minh quân nhìn
xa trông rộng và tài năng. Dưới triều đại của ông, nước Ai Cập phát
triển thịnh vượng và đạt nhiều thành tựu văn hóa.
[16] Ông cũng phát triển thương mại với người
Hy Lạp.
[15]
- Từ năm 553 cho đến năm 550 TCN, có Hoàng đế Cyrus Đại đế dấy lên lập đế quốc Ba Tư.[17] Được xem là vị Đại Danh tướng (Great Captain) đầu tiên trong chính sử, ông ta chinh phạt được Đế quốc Media, nhanh chóng mở mang bờ cõi.[18][19] Lúc bấy giờ, Ai Cập là một trong bốn đế quốc lớn ở vùng Cận Đông.[20] Sự phát triển lớn mạnh của Đế quốc Ba Tư làm vua nước Lydia là Kroisos lo sợ và ký Hiệp ước với pharaon Amasis II (549 TCN).[21] Pharaon phái một đạo quân hùng mạnh đến đánh quân Ba Tư. Trong trận Thymbra,
Bộ binh Ai Cập vẫn đứng vững trong liên quân Lydia, Hoàng đế Cyrus Đại
Đế bèn thỏa thuận riêng với họ, để họ về nước trong vinh quang.[14] Quân Lydia bị đánh tan tác,[22] rồi lần lượt cả hai Đế quốc Lydia và Babylon đều rơi vào tay Hoàng đế Cyrus Đại Đế.[23] Theo Herodotos, vào năm 530 TCN, ông ta tử trận khi đánh Nữ vương Tomyris người Massagetae, truyền ngôi Hoàng đế cho Hoàng thái tử Cambyses.[24]
Hoàng đế
Cambyses II chuẩn bị đánh Ai Cập, và Triều đình Ai Cập cũng chuẩn bị cho chiến tranh.
[25] Vào năm 526 TCN, giữa lúc quan hệ Ai Cập - Ba Tư trở nên cực kỳ căng thẳng, pharaon Amasis II đột ngột qua đời. Pharaon
Psammetichus III lên nối ngôi, bị quân Ba Tư đánh bại và bị bắt giải về Ba Tư, chỉ sau 6 tháng trị vì.
[26]
Với công cuộc chinh phạt Ai Cập, Hoàng đế Cambyses II đã hoàn thành
tham vọng của vua cha Cyrus Đại Đế, và thể hiện mình là một vị thống
soái tài năng.
[24] Ông ta cho hành quyết nhiều tù binh, nhưng tha tội cho pharaon Psammetichus III và giam cầm ông trong cung đình.
Nhà Achaemenes, tuy không đóng đô trên đất Ai Cập, nhưng được coi là
vương triều thứ 27 của Ai Cập. Ngân khố Hoàng gia của các vị pharaon Necho, Amasis II và Psammetichus III đều bị mang về Đế quốc Ba Tư.
[27]
Trong cuộc
chiến tranh Hy Lạp-Ba Tư vào thế kỷ V TCN, quân Ba Tư đã đập tan tác quân Athena trong một trận đánh tại Ai Cập.
[28] Trong thời Ba Tư thuộc, người Ai Cập nổi lên độc lập được hơn 60 năm, thành được 3 vương triều chót của danh sách Manetho:
Từ năm 404 TCN cho đến năm 358 TCN, Hoàng đế Ba Tư là
Artaxerxes II hai lần đánh Ai Cập, nhưng pharaon
Nectanebo II chống trả mãnh liệt đến quân Ba Tư phải lui. Hoàng đế
Artaxerxes III
lên thay, đánh Ai Cập vào năm 351 TCN nhưng bại trận. Đến năm 343 TCN,
ông ta lại xua quân đánh Ai Cập, đánh thắng pharaon Nectanebo II trong
trận Pelusium và tiến hành cướp phá tàn bạo.
[29]
Triều đại Ptolemaios
-
Năm 332 TCN, vua
Macedonia là
Alexandros Đại đế tiêu diệt được
đế quốc Ba Tư, rồi chiếm luôn Ai Cập. Đất nước của các pharaon bước sang thời kì
Ai Cập thuộc Hy Lạp. Ông tiếp đó cho xây dựng thành
Alexandria
mà nhà Ptolemaios kế tục đã chọn nó là kinh đô của Ai Cập. Thành phố
này đã cho thấy sức mạnh và uy thế dưới sự cai trị của người Hy Lạp , và
trở thành một trung tâm của học tập và văn hóa, với
Thư viện Alexandria nổi tiếng
[30]
Thời kì thuộc La Mã
Ai Cập trở thành một tỉnh của
Đế chế La Mã vào năm 30 trước Công nguyên, sau thất bại của
Marcus Antonius và Nữ hoàng Cleopatra VII trước Octavian (sau này là Hoàng đế
Augustus) trong
trận Actium.
Người La Mã phụ thuộc chủ yếu vào các chuyến hàng ngũ cốc từ Ai Cập, và
quân đội La Mã, thuộc thẩm quyền của thái thú được bổ nhiệm bởi Hoàng
đế, dẹp yên cuộc nổi loạn, thi hành nghiêm túc việc thu thuế nặng, và
ngăn chặn cuộc tấn công của bọn cướp, mà đã trở thành một vấn đề nổi
tiếng trong giai đoạn này
[31]
Alexandria đã trở thành một trung tâm ngày càng quan trọng trên tuyến
đường thương mại với phương đông, vì những của cải xa hoa kỳ lạ có nhu
cầu cao tại Rome.
[32]
Mặc dù người La Mã đã có một thái độ thù địch hơn so với người Hy Lạp
đối với người Ai Cập, một số truyền thống như ướp xác và thờ cúng các
vị thần truyền thống vẫn tiếp tục.
[33]
Nghệ thuật vẽ chân dung xác ướp phát triển rực rỡ, và một số của các
hoàng đế La Mã đã tự mô tả mình như pharaoh, mặc dù không đến mức độ như
nhà Ptolemaios trước đây.
Thành tựu văn hóa Ai Cập cổ
Nghệ thuật ướp xác Ai Cập cổ
-
Bức tranh miêu tả thuật ướp xác
Thuật ướp xác của người Ai Cập ra đời từ năm 2700 TCN. và kéo dài đến tận
thế kỷ thứ 5.
Quan niệm của người Ai Cập cổ về sự vĩnh hằng ở thế giới của các thần
linh sau khi chết nên việc ướp xác cũng là đức tin cho sự trường tồn của
vương quốc Ai Cập.
Nguyên tắc ướp xác của Ai Cập cổ đại dựa trên việc làm mất nước trong cơ thể người chết và lấy đi các bộ phận dễ phân hủy như
nội tạng và bộ
não.
Nghệ thuật lấy não người chết thật tài tình, nhiều năm làm các chuyên
gia giải phẫu lúng túng về phương pháp bảo vệ hộp sọ của người chết
trong khi não được lấy ra một cách hoàn hảo. Bước tiếp theo, xác ướp
được để trong natron khô khoảng 70 ngày để thanh trùng. Cuối cùng là
nhồi cỏ khô, thơm vào phần rỗng của nội tạng, xoa dầu thơm và quấn vải
lên thi thể một cách cẩn thận và chu đáo. Các ngón tay của
xác ướp được lồng bằng các ống
vàng. Não và nội tạng khi lấy ra khỏi xác ướp được cất giữ ở 4 chiếc bình.
Nghi thức chôn cất xác ướp cũng thần bí và ngày nay các nhà
khảo cổ học vẫn khám phá thêm các thông tin thú vị bên các khu khai quật mới.
Chữ viết Ai Cập cổ
Chữ tượng hình trên một bức vẽ
Đã lâu, các nhà khảo cổ học tìm thấy những ký hiệu tượng hình được
khắc trên các bức tranh trong các di tích tìm thấy khi tiến hành khai
quật
Nekhen (
Hierakonpolis theo người Hy Lạp cổ và
Kom el-Ahmar trong
tiếng Ả Rập ngày nay), vào năm
1894.
Tuổi của những chữ tượng hình này có niên đại vào khoảng 3200 TCN. Tuy
nhiên, gần đây, các nhà khảo cổ học lại tìm thấy những ký hiệu trên
đồ gốm Gerzean, 4000 TCN, có sự tương đồng với chữ viết cổ Ai Cập.
Các nhà
Ai Cập học xếp hệ thống chữ viết của Ai Cập cổ vào thể loại
chữ tượng hình
là lối viết sớm của hệ thống chữ viết của thế giới. Những thầy tu thảo
ra những chữ tượng hình Ai Cập cổ từ triều đại đầu tiên (2925 - 2775
TCN).
Chữ tượng hình Ai Cập cổ không còn được sử dụng từ
thế kỷ thứ 4. Đến
thế kỷ 15,
người ta bắt đầu giải mã hệ thống chữ viết của Ai Cập cổ. Đến thế kỷ
19, nhà khảo cổ người Pháp là Champollion đã giải mã được văn tự Ai Cập.
Cuối thế kỷ 20, người ta đã truy ra là mẫu tự Phoenix (tổ tiên của
người Li Ban) đã được đặt ra bắt chước theo văn tự Ai Cập. Sau đó các
dân tộc Do Thái, Ả Rập, Hy Lạp và La-Tinh đã dựa theo mẫu tự Phoenix để
thành lập chữ viết của mình. Ngày nay, các xứ dùng mẫu tự La Tinh, trong
đó có Việt Nam, Pháp, Anh; các xứ dùng mẫu tự Hi Lạp, trong đó có Nga
đều thừa hưởng di sản của chữ viết Ai Cập !
Văn học - nghệ thuật Ai Cập cổ
Một cuốn sách của người chết viết trên giấy papyrus
Tác phẩm văn học cổ xưa nhất của Ai Cập có lẽ là các tác phẩm sách giấy papyrus (chỉ thảo)
Ipuwer, có niên đại 1800 TCN. Hiện nay bộ sưu tập về các tác phẩm cổ đại Ai cập còn có:
- Sách giấy papyrus Westcar (1600 TCN)
- Sách giấy papyrus Tulli (1400 TCN)
- Sách giấy papyrus Ebers (1300 TCN)
- Sách giấy papyrus Harris I (1180 TCN)
- Chuyện của Wenamun (1000 TCN)
Nghệ thuật hội họa Ai Cập cổ đáng để chúng ta kinh ngạc bởi những tranh vẽ trên tường trong các khu hầm mộ của các
pharaon,
trên các chất liệu gốm cổ,… Các bức tranh mô tả cảnh sinh hoạt và sản
xuất cũng như tín ngưỡng tập tục của các cư dân và vua chúa Ai Cập. Các
tác phẩm hội họa và các hoa văn trên gốm và đất nung đã cung cấp cho các
nhà
Ai Cập học các tư liệu phong phú và sinh động.
Một bình gốm có hoa văn ở bảo tàng
Louvre
Việc tồn tại cho đến ngày nay các tác phẩm hội họa Ai Cập cổ có thể do khí hậu khô của
sa mạc và điều kiện thiếu
ánh sáng của các
hầm mộ.
Những bức vẽ của Ai Cập cổ miêu tả về một thế giới vui tươi cho những
người chết ở cõi vĩnh hằng. Nhiều bức họa vẽ cảnh đi vào cõi âm nhằm che
chở người chết đi về với Chúa trời vì người Ai Cập tin rằng sự chết chỉ
là sự chuyển chỗ ở sang một thế giới các vị thần và điều này sẽ phù hộ
cho những vị pharaÔng và các triều đại đang trị vì nước Ai Cập.
Nghệ thuật gốm cổ Ai Cập cũng rất phong phú và tinh xảo. Người Ai Cập
cổ đã khám phá ra chất liệu men gốm khá sớm; trên các bề mặt của gốm cổ
Ai Cập có chạm khắc tinh xảo các hình nhỏ mô tả nhiều chủ đề. Đồ gốm
thường được chôn theo người chết và để dùng vào các nghi lễ thần bí.
Giấy papyrus là một loại
giấy do người Ai Cập cổ sáng chế ra, được làm từ cây papyrus mọc ở châu thổ
sông Nin.
Công nghệ làm giấy papyrus không được ghi lại và bị thất truyền theo
thời gian, tuy vậy, vào năm 1940, các nhà Ai Cập học đã phục hồi được
công nghệ này. Người ta đã tìm thấy những tấm giấy có kích thước khá
lớn, dài hàng
mét. Giấy papyrus được người Ai Cập cổ dùng vào các việc ghi chép lại các cảnh sinh hoạt bao gồm
văn học,
tôn giáo,
lịch sử và các công việc
hành chính.
Kiến trúc Ai Cập cổ
Đền Luxor ở Đông sông Nin
Hơn 10.000 năm trước đây, châu thổ sông Nin là nơi khởi đầu một nền
văn minh sớm của thế giới. Cùng với sự xuất hiện nền văn minh Ai Cập cổ
là các công trình xây dựng vĩ đại trên một khu vực tập trung dày đặc. Ai
Cập cổ đã để lại và đóng góp cho nhân loại một trong
Bảy kỳ quan thế giới cổ đại, đó là
Kim tự tháp Giza và
tượng nhân sư Sphinx khổng lồ.
- Đặc trưng kiến trúc Ai Cập cổ thể hiện sự khan hiếm vật liệu gỗ, nên
người Ai Cập cổ sử dụng vật liệu trong xây dựng chủ yếu là gạch chưa
nung, đá các loại. Trong suốt các triều đại Ai Cập cổ, vật liệu đá được
dùng hầu . Đôi khi, các vật liệu gạch có được dùng trong các công việc
xây dựng lâu đài của các Hoàng đế, pháo đài và một số công trình dân
dụng khác như tường bao quanh lâu đài, đền đài và đô thị và các công
trình phụ trợ ít quan trọng trong các đền đài. Rất nhiều công trình nhỏ
của Ai Cập cổ đã bị phá hủy và cuốn trôi theo những cơn giận giữ bất
thường của sông Nin. Tuy nhiên, do điều kiện khí hậu
khô, nóng của Ai Cập cũng giúp bảo tồn được khá nhiều các công trình
xây bằng gạch chưa nung. Ví dụ, ngày nay còn lại một số ngôi làng như
Deir al-Madinah, pháo đài Buhen và Mirgissa. Các công trình bằng đá ở
các khu đất cao, không ảnh hưởng bởi lũ lụt của sông Nin nhưng cũng chịu
tác động không nhỏ của các cơn bão cát sẵn có ở vùng này.
Điều ấn tượng nhất chính là kỹ thuật xây dựng của người Ai Cập cổ. Những công trình đồ sộ, cao lớn và chính xác theo quan niệm
vũ trụ
của người Ai Cập cổ đến hôm nay cũng làm cho các nhà khảo cổ học lúng
túng và việc liên tục khám phá chúng và có nhiều công trình nghiên cứu
mới ra đời thay thế cho các lập luận cũ không còn đứng vững. Cũng cần
nhắc đến kiểu kiến trúc đặc trưng của các cổng, cửa theo kiểu của vòm ở
triều đại thứ 4; tất cả các lối vào của các công trình lớn được kết cấu
bởi các cổng lớn có dầm đỡ.
Thế giới quan - triết học Ai Cập cổ
Quan niệm về thế giới huyền bí của người Ai Cập cổ hay quan niệm tôn
giáo tín ngưỡng kéo dài trên dưới 3.000 năm về giữa cả hai tôn giáo là
đạo Ki-tô và
đạo Hồi.
- Thần linh của người Ai Cập cổ, khi sơ khởi được quan niệm là một thế
giới hỗn mang của vật chất là nước. Vị thần đầu tiên, thần Ra-Atum,
hàng năm xuất hiện như nước lũ của sông Nin ở xứ sở Ai Cập. Thần Ra sinh ra các bọt nước, từ đó biến thành thần Shu (không khí) và Tefnut (hơi nước). Thế giới được tạo ra khi thần Shu và Tefnut sinh ra hai đứa trẻ: Nut (bầu trời) và Geb
(mặt đất). Con người được tạo ra khi thần Shu và thần Tefnut sơ ý bị
lạc trong hoang mạc đen tối, thần Rê dùng đôi mắt của mình đi tìm họ và
trong khi xúc động về sự đoàn tụ, nước mắt sung sướng của thần Rê đã tạo
nên loài người. Con trai của thần Geb là Osiris được cử làm vua của Ai
Cập cổ đại. Người em trai của Osiris là Seth
được xem là kẻ xấu xa trong vũ trụ. Seth đã giết Osiris và tự lên ngôi
là vua Ai Cập. Sau khi giết Osiris, Seth thách đấu với con trai của
Osiris (Horus) và bị thua, Seth bị đày đến sa mạc và biến thành thần bão cát khủng khiếp. Osiris được ướp xác bởi Anubis và biến thành thần của sự chết. Horus bắt đầu lên ngôi vua và trở thành pharaon.
Còn rất nhiều truyền thuyết xung quanh các triều đại Ai Cập. Nhưng
thế giới của người Ai Cập luôn xoay quanh các điều thần bí về con sông
Nin và sa mạc, tạo nên một đức tin về các thế lực thần bí, luôn lôi kéo
con người phải thần phục các pharaong và các pharaong như một vị thần
hiện hữu, thay mặt các vị thần khác có nhiệm vụ trông coi dân Ai Cập và
dung hòa các thế lực thiên nhiên khắc nghiệt để đưa đến cho thần dân Ai
Cập một cuộc sống yên lành bên cạnh pharaong và dòng sông Nin giàu có và
thần bí.
- Quan niệm về cái chết của người Ai Cập cổ như một sự chuyển tiếp một
cuộc sống khác ở thế giới bên kia, thế giới cõi âm. Nghi lễ về cái chết
là một sự kiện quan trọng và tỉ mỉ nhằm tiễn đưa người chết về với cõi
vĩnh hằng. Người Ai Cập cổ quan niệm con người có cả phần thể xác và
phần linh hồn, chính vì vậy, các nghi lễ là thể hiện sự chuẩn bị cho thể
xác và linh hồn có được sự hòa hợp khi về cõi âm, họ tin tưởng rằng,
nếu thi thể được bảo quản tốt nhất thì linh hồn sẽ tái hòa nhập sau một
thời gian nào đó. Điều kiện để linh hồn
mau chóng trở lại hòa nhập vào thể xác là xác phải được một người thầy
tu lành nghề bảo quản nguyên vẹn cơ thể, khuôn mặt được như lúc còn sống
và cơ thể phải được ướp hương thơm. Đầu tiên, cơ thể người chết sau khi
đã được lấy đi nội tạng, sẽ được cho vào một quan tài nhỏ bằng sậy vùi
vào cát nóng nhằm làm khô xác để cho cơ thể không thể phân hủy sau này,
sau đó thì mới mai táng trong hầm mộ.
Chính quyền và kinh tế
Chính sách quản lý và thuế
Bức tranh mô tả cuộc sống lao động thường ngày ở
Ai Cập cổ
Nhằm quản lý hiệu quả, người Ai Cập cổ đại đã chia vương quốc thành các vùng, được gọi là
nome. Vết tích về các
nome
có lẽ được bắt đầu từ thời kỳ Tiền triều đại (trước 3100 TCN), khi đó
các vùng được tự trị như các tiểu đô thị. Hệ thống cai trị này rất phổ
biến dưới nhiều triều đại của các pharaon Ai Cập cổ, vương quốc đã được
chia thành 42
nome. Thời kỳ suy yếu, nước Ai Cập cũng được chia thành 22
nome.
Trong mỗi vùng này, việc cai trị được trao cho một người đứng đầu,
giống như thống đốc của một địa phương cấp tỉnh, với đầy đủ quyền lực
cai trị địa phương mình. Địa vị của vị thủ lĩnh được phép truyền đời
theo dòng họ, cha truyền con nối, được sự bổ nhiệm của pharaon.
Sự cai trị của Ai Cập cổ đại áp đặt khác nhau về số thuế phải đóng
của các cư dân. Người ta chưa rõ từ khi nào người dân Ai Cập phải đóng
thuế bằng các hình thức hoặc là sản phẩm, hoặc là lao động. Vị quan điều
hành hệ thống
thuế
thông qua một bộ của bang, vùng. Bộ điều hành thuế có các thông báo
hàng ngày về số lượng hiện có trong kho, và dự tính thời gian hết trong
tương lai. Các loại thuế phải nộp dựa trên kết quả các ngành nghề thủ
công và lợi tức. Các chủ đất phải nộp thuế bằng các sản phẩm thu họach
trên đất đai, đầm nước và các ốc đảo của mình. Những thợ săn và người
đánh cá phải nộp các khoản thuế trên các sản phẩm từ sông, hồ, đầm lầy
và sa mạc. Mỗi thành viên trong các gia đình buộc phải trả thuế bằng sức
lao động ở các công trường bằng số lượng vài tuần trên một năm, ví dụ
như đào kênh hay làm việc ở các khu khai khoáng. Tuy nhiên, những người
giàu có, có thể được phép thuê những người đàn ông nghèo khổ đi đóng
thuế lao động cho mình.
Hệ thống pháp luật
Người đứng đầu của hệ thống pháp luật chính thức là các pharaoh,
người chịu trách nhiệm thi hành pháp luật, thực thi công lý, duy trì
pháp luật và trật tự, một khái niệm được người Ai Cập cổ đại gọi là
Ma'at[34]
Mặc dù không có bộ luật nào từ thời Ai Cập cổ đại còn tồn tại, thư liệu
của tòa án cho thấy luật pháp Ai Cập được dựa trên một cái nhìn chung
về ý thức đúng và sai mà nhấn mạnh tới việc đạt được thỏa thuận và giải
quyết xung đột thay vì tôn trọng đúng một tập hợp quy chế phức tạp
[35]
Hội đồng địa phương gồm những người cao tuổi, được biết đến như Kenbet
vào thời Tân vương quốc, chịu trách nhiệm về phán quyết trong các phiên
tòa liên quan đến các vụ kiện nhỏ và tranh chấp nhỏ.
[34]
Trường hợp nghiêm trọng hơn liên quan đến giết người, giao dịch đất
lớn, và cướp mộ được đưa đến Đại Kenbet, mà tể tướng hoặc pharaoh chủ
trì. Nguyên đơn và bị đơn dự kiến sẽ đại diện cho bản thân và phải thề
một lời tuyên thệ rằng họ đã nói sự thật.
Nông nghiệp
A tomb relief depicts workers plowing the fields, harvesting the crops,
and threshing the grain under the direction of an overseer.
Sự kết hợp các điều kiện địa lý thuận lợi góp phần vào sự thành công
của văn hóa Ai Cập cổ đại, quan trọng nhất trong đó là đất đai có độ màu
mỡ cao, kết quả từ sự ngập lụt hàng năm của
sông Nile.
Như vậy, người Ai Cập cổ đại có thể tạo ra một nguồn lương thực dồi
dào, cho phép dân cư dành nhiều thời gian và nguồn lực cho các mục đích
văn hóa, kĩ thuật, và nghệ thuật. Quản lý đất đai là rất quan trọng
trong thời Ai Cập cổ đại bởi vì số thuế được thu dựa trên số lượng đất
mà một người sở hữu .
[36]
Công việc đồng áng ở Ai Cập phụ thuộc vào chu kỳ của sông Nile. Người
Ai Cập ghi nhận ba mùa: Akhet (lũ lụt), Peret (trồng trọt), và Shemu
(thu hoạch). Mùa lũ lụt kéo dài từ tháng sáu tới tháng chín, bồi đắp hai
bên bờ sông một lớp phù sa lý tưởng, giàu khoáng chất cho việc trồng
trọt. Sau khi nước lũ rút, mùa gieo trồng kéo dài từ Tháng Mười tới
tháng hai. Nông dân cày và trồng hạt giống trên các cánh đồng, được tưới
bằng mương, kênh rạch. Ai Cập vốn có lượng mưa hàng năm ít, do đó, nông
dân đã dựa vào sông Nile để tưới nước cho cây trồng của họ
[37]
Từ tháng ba tới tháng năm, nông dân sử dụng liềm để thu hoạch cây trồng
của họ, mà sau đó đã đập với một cái đập lúa một để tách riêng rơm khỏi
hạt thóc lúa. Sàng lọc loại bỏ trấu khỏi thóc, các hạt thóc lúa sau đó
được nghiền thành bột, ủ làm bia, hoặc được lưu trữ để sử dụng sau này.
[38]
Người Ai Cập cổ đại trồng lúa mì và lúa mạch, và một số loại ngũ cốc
khác, tất cả đều được sử dụng để làm cho hai loại thực phẩm chính là
bánh mì và bia
[39]
Các cây lanh bị nhổ bật gốc trước khi chúng bắt đầu ra hoa, vốn được
trồng để lấy sợi. Những sợi này được tách dọc theo chiều dài của nó và
xe thành sợi, được sử dụng để dệt vải lanh và may quần áo. Cây cói mọc
trên các bờ của sông Nile đã được sử dụng để làm giấy. Rau và hoa quả
được trồng ở những mảnh đất vườn, gần các ngôi nhà và trên khu đất cao
hơn, và phải được tưới nước bằng tay. Rau bao gồm tỏi tây, tỏi, dưa hấu,
bí, đậu, rau diếp, và các cây trồng khác, ngoài ra còn có nho đã được
chế biến thành rượu.
[40]
Sennedjem plows his fields with a pair of oxen, used as beasts of burden and a source of food.
Chú thích
- ^ Hayes (1964) p. 220
- ^ Childe, V. Gordon (1953), "New light on the most ancient Near East" (Praeger Publications)
- ^ Patai, Raphael (1998), "Children of Noah: Jewish Seafaring in Ancient Times" (Princeton Uni Press)
- ^ James (2005) p. 40
- ^ Shaw (2002) p. 102
- ^ Shaw (2002) p. 120
- ^ Clayton (1994) p. 29
- ^ Shaw (2002) p. 148
- ^ Clayton (1994) p. 79
- ^ Shaw (2002) p. 158
- ^ a b Ryholt (1997) p. 310
- ^ Shaw (2002) p. 189
- ^ Shaw (2002) p. 224
- ^ a b Richard Ernest Dupuy, Trevor Nevitt Dupuy, HarperCollins (Firm), The Harper encyclopedia of military history: from 3500 BC to the present, trang 23
- ^ a b Scott Oden, Men of Bronze, trang 481
- ^ Trevor Nevitt Dupuy, Curt Johnson, David L. Bongard, The Harper encyclopedia of military biography, trang 18
- ^ M. A. Dandamaev, A political history of the Achaemenid empire, trang 18
- ^ Steven R. Ward, Georgetown University. Center for Peace and Security Studies, Immortal: a military history of Iran and its armed forces, trang 11
- ^ Steven R. Ward, Georgetown University. Center for Peace and Security Studies, Immortal: a military history of Iran and its armed forces, trang 12
- ^ M. A. Dandamaev, A political history of the Achaemenid empire, trang 14
- ^ M. A. Dandamaev, A political history of the Achaemenid empire, trang 22
- ^ Steven R. Ward, Georgetown University. Center for Peace and Security Studies, Immortal: a military history of Iran and its armed forces, trang 13
- ^ M. A. Dandamaev, A political history of the Achaemenid empire, trang 62
- ^ a b Steven R. Ward, Georgetown University. Center for Peace and Security Studies, Immortal: a military history of Iran and its armed forces, trang 14
- ^ M. A. Dandamaev, A political history of the Achaemenid empire, trang 71
- ^ M. A. Dandamaev, A political history of the Achaemenid empire, trang 73
- ^ M. A. Dandamaev, A political history of the Achaemenid empire, trang 75
- ^ Steven R. Ward, Georgetown University. Center for Peace and Security Studies, Immortal: a military history of Iran and its armed forces, trang 20
- ^ Margaret Bunson, Encyclopedia of ancient Egypt, trang 55
- ^ Shaw (2002) p. 405
- ^ James (2005) p. 63
- ^ Shaw (2002) p. 426
- ^ Shaw (2002) p. 422
- ^ a b Manuelian (1998) p. 358
- ^ Janet H. Johnson. “Women's Legal Rights in Ancient Egypt”. University of Chicago, 2004. Truy cập 31 tháng 8 năm 2010.
- ^ Manuelian (1998) p. 361
- ^ Nicholson (2000) p. 514
- ^ Nicholson (2000) p. 506
- ^ Nicholson (2000) p. 510
- ^ Nicholson (2000) pp. 577 and 630
Tài liệu tham khảo
- Trevor Nevitt Dupuy, Curt Johnson, David L. Bongard, The Harper encyclopedia of military biography, HarperCollins, 1992.
- Richard Ernest Dupuy, Trevor Nevitt Dupuy, HarperCollins (Firm), The Harper encyclopedia of military history: from 3500 BC to the present, HarperCollins, 1993. ISBN 0062700561.
- Margaret Bunson, Encyclopedia of ancient Egypt, Infobase Publishing, 2002. ISBN 0816045631.
- Scott Oden, Men of Bronze, Medallion Press, Inc., 2006. ISBN 1932815856.
- Aldred, Cyril (1988). Akhenaten, King of Egypt. London, England: Thames and Hudson. ISBN 0-500-05048-1.
- Allen, James P. (2000). Middle Egyptian: An Introduction to the Language and Culture of Hieroglyphs. Cambridge, UK: Cambridge University Press. ISBN 0-521-77483-7.
- Badawy, Alexander (1968). A History of Egyptian Architecture. Vol III. Berkeley, California: University of California Press. ISBN 0-520-00057-9.
- Billard, Jules B. (1978). Ancient Egypt: Discovering its Splendors. Washington D.C.: National Geographic Society.
- Cerny, J (1975). Egypt
from the Death of Ramesses III to the End of the Twenty-First Dynasty'
in The Middle East and the Aegean Region kh. 1380–1000 BC. Cambridge, UK: Cambridge University Press. ISBN 0-521-08691-4.
- Clarke, Somers (1990). Ancient Egyptian Construction and Architecture. New York, New York: Dover Publications, Unabridged Dover reprint of Ancient Egyptian Masonry: The Building Craft originally published by Oxford University Press/Humphrey Milford, London, (1930). ISBN 0-486-26485-8.
- Clayton, Peter A. (1994). Chronicle of the Pharaohs. London, England: Thames and Hudson. ISBN 0-500-05074-0.
- Cline, Eric H.; O'Connor, David Kevin (2001). Amenhotep III: Perspectives on His Reign. Ann Arbor, Michigan: University of Michigan Press. tr. 273. ISBN 0-472-08833-5.
- Dodson, Aidan (1991). Egyptian Rock Cut Tombs. Buckinghamshire, UK: Shire Publications Ltd. ISBN 0-7478-0128-2.
- Dodson, Aidan; Hilton, Dyan (2004). The Complete Royal Families of Ancient Egypt. London, England: Thames & Hudson. ISBN 0500051283.
- El-Daly, Okasha (2005). Egyptology: The Missing Millennium. London, England: UCL Press. ISBN 1-844-72062-4.
- Filer, Joyce (1996). Disease. Austin, Texas: University of Texas Press. ISBN 0-292-72498-5.
- Gardiner, Sir Alan (1957). Egyptian Grammar: Being an Introduction to the Study of Hieroglyphs. Oxford, England: Griffith Institute. ISBN 0-900416-35-1.
- Hayes, W. C. (October 1964). "Most Ancient Egypt: Chapter III. The Neolithic and Chalcolithic Communities of Northern Egypt". JNES 23: 217–272.
- Imhausen, Annette; Eleanor Robson, Joseph W. Dauben, Kim Plofker, J. Lennart Berggren, Victor J. Katz (2007). The Mathematics of Egypt, Mesopotamia, China, India, and Islam: A Sourcebook. Princeton: Princeton University Press. ISBN 0-691-11485-4.
- James, T.G.H. (2005). The British Museum Concise Introduction to Ancient Egypt. Ann Arbor, Michigan: University of Michigan Press. ISBN 0-472-03137-6.
- Kemp, Barry (1991). Ancient Egypt: Anatomy of a Civilization. London, England: Routledge. ISBN 0415063469.
- M. A. Dandamaev, A political history of the Achaemenid empire, BRILL, 1989. ISBN 9004091726.
- Lichtheim, Miriam (1975). Ancient Egyptian Literature, vol 1. London, England: University of California Press. ISBN 0-520-02899-6.
- Lichtheim, Miriam (1980). Ancient Egyptian Literature, A Book of Readings. Vol III: The Late Period. Berkeley, California: University of California Press. ISBN 0-520-24844-1.
- Loprieno, Antonio (1995a). Ancient Egyptian: A linguistic introduction. Cambridge, UK: Cambridge University Press. ISBN 0-521-44849-2.
- Loprieno, Antonio (1995b). "Ancient Egyptian and other Afroasiatic Languages". trong Sasson, J. M.. Civilizations of the Ancient Near East. 4. New York, New York: Charles Scribner. 2137–2150. ISBN 1-565-63607-4.
- Loprieno, Antonio (2004). "Ancient Egyptian and Coptic". trong Woodward, Roger D.. The Cambridge Encyclopedia of the World's Ancient Languages. Cambridge, UK: Cambridge University Press. 160–192. ISBN 0-52-156256-2.
- Lucas, Alfred (1962). Ancient Egyptian Materials and Industries, 4th Ed. London, England: Edward Arnold Publishers. ISBN 1854170465.
- Mallory-Greenough, Leanne
M. (2002). "The Geographical, Spatial, and Temporal Distribution of
Predynastic and First Dynasty Basalt Vessels". The Journal of Egyptian Archaeology (London, England: Egypt Exploration Society) 88: 67–93. doi:10.2307/3822337.
- Manuelian, Peter Der (1998). Egypt: The World of the Pharaohs. Bonner Straße, Cologne Germany: Könemann Verlagsgesellschaft mbH. ISBN 3-89508-913-3.
- McDowell, A. G. (1999). Village life in ancient Egypt: laundry lists and love songs. Oxford, England: Oxford University Press. ISBN 0-19-814998-0.
- Meskell, Lynn (2004). Object Worlds in Ancient Egypt: Material Biographies Past and Present (Materializing Culture). Oxford, England: Berg Publishers. ISBN 1-85973-867-2.
- Midant-Reynes, Béatrix (2000). The Prehistory of Egypt: From the First Egyptians to the First Pharaohs. Oxford, England: Blackwell Publishers. ISBN 0-631-21787-8.
- Nicholson, Paul T. et al. (2000). Ancient Egyptian Materials and Technology. Cambridge, UK: Cambridge University Press. ISBN 0521452570.
- Oakes, Lorna (2003). Ancient Egypt: An Illustrated Reference to the Myths, Religions, Pyramids and Temples of the Land of the Pharaohs. New York, New York: Barnes & Noble. ISBN 0-7607-4943-4.
- Robins, Gay (2000). The Art of Ancient Egypt. Cambridge, Massachusetts: Harvard University Press. ISBN 0-674-00376-4.
- Ryholt, Kim (January 1997). The Political Situation in Egypt During the Second Intermediate Period. Copenhagen, Denmark: Museum Tusculanum. ISBN 8772894210.
- Scheel, Bernd (1989). Egyptian Metalworking and Tools. Haverfordwest, Great Britain: Shire Publications Ltd. ISBN 0747800014.
- Shaw, Ian (2003). The Oxford History of Ancient Egypt. Oxford, England: Oxford University Press. ISBN 0-500-05074-0.
- Siliotti, Alberto (1998). The Discovery of Ancient Egypt. Edison, New Jersey: Book Sales, Inc. ISBN 0-7858-1360-8.
- Strouhal, Eugen (1989). Life in Ancient Egypt. Norman, Oklahoma: University of Oklahoma Press. ISBN 0-8061-2475-x.
- Tyldesley, Joyce A. (2001). Ramesses: Egypt's greatest pharaoh. Harmondsworth, England: Penguin. 76–77. ISBN 0-14-028097-9.
- Vittman, G. (1991). "Zum koptischen Sprachgut im Ägyptisch-Arabisch". Wiener Zeitschrift für die Kunde des Morgenlandes (Vienna, Austria: Institut für Orientalistik, Vienna University) 81: 197–227.
- Walbank, Frank William (1984). The Cambridge ancient history. Cambridge, UK: Cambridge University Press. ISBN 0-521-23445-X.
- Wasserman, James; Faulkner, Raymond Oliver; Goelet, Ogden; Von Dassow, Eva (1994). The Egyptian Book of the dead, the Book of going forth by day: being the Papyrus of Ani. San Francisco, California: Chronicle Books. ISBN 0-8118-0767-3.
- Wilkinson, R. H. (2000). The Complete Temples of Ancient Egypt. London, England: Thames and Hudson. ISBN 0500051003.
Xem thêm
Đọc thêm
- Chronology of World History, GSP Freeman Greenville - Rex Collins - London 1975
- L'Egypte Ancienne - Jean Vercoutter - Editions Que-sais-je?, Paris 1982.
- Les premières civilisations de la Méditerranée - Jean-Gabriel Leroux - Editions Que-sais-je?, Paris 1941.
- The Cambridge Ancient History - Volume 1 - Part 2
Liên kết ngoài
+++++++++++++++++++++++++++++++++
1.2 Lịch sử Ai Cập
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hathor, nữ thần của dải Ngân Hà
Lịch sử Ai Cập là lịch sử của một lãnh thổ thống nhất lâu đời nhất trên thế giới. Vùng thung lũng
sông Ninl tạo một khối địa lý thiên nhiên và kinh tế, bao bọc bởi
sa mạc
hai bên đông tây, phía bắc giáp biển, và phía nam là các hố nước sông
Nin. Vấn đề quản lý nguồn nước sông Nin đưa đến thành lập chính quyền
khu vực này từ khoảng năm 5000 TCN. Vì địa thế của Ai Cập gây khó khăn
cho những nước khác đến chiếm đóng, xứ này giữ độc lập tự chủ trong
nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, từ khi con người tổ chức được những đoàn quân
lớn vượt sa mạc, và những hạm đội lớn băng qua biển, thì Ai Cập liên
tiếp bị nhiều
đế quốc vào đô hộ, đưa đến sự mất đi chữ viết, ngôn ngữ và bản sắc dân tộc.
Độc lập và ngoại xâm
Trong quá trình 7000 năm lịch sử, Ai Cập đã có những thời huy hoàng
của người bản xứ cai trị trước năm 1000 TCN. Nhưng Ai Cập cũng bị người
nước ngoài vào đô hộ hơn 2400 năm. Được biết đến thời xa xưa nhất là
"người
phương Đông" vào khoảng 3300 TCN. Kế đến là triều đại người
Hyksos vào khoảng năm 1700 - 1580 TCN. Khoảng 600 năm sau có người
Libya phía tây sang lập một triều đại. Năm 730 TCN Ai Cập rơi vào sự lệ thuộc người
Nubia phía nam.
Năm 672 TCN Ai Cập bị một thế lực từ phương xa là
đế quốc Assyria ở
Iraq sang chiếm một thời gian ngắn. Giai đoạn 525 - 332 TCN Ai Cập là tỉnh của
đế quốc Ba Tư, với một khoảng 61 năm độc lập 404 - 343 TCN. Ai Cập tiếp tục bị các đế quốc từ xa là
Macedonia và
La Mã đến cai trị trước khi bị đế quốc Ả Rập láng giềng sang chiếm.
Từ cuối thế kỷ 9 trở đi, Ai Cập lại có được những chính quyền tự chủ,
đóng đô trên đất Ai Cập, mặc dù những vị vua là người Thổ Nhĩ Kỳ (nhà
Tulunid và nhà Mamluk giai đoạn đầu), người Nubia ở
Sudan (một vị vua nhà Ikhshidid), người Ả Rập (nhà Fatima), người Kurd (nhà Ayyub) và người Circassian (nhà Mamluk giai đoạn sau).
Năm 1517, Ai Cập bị trở thành tỉnh của
Đế quốc Ottoman người Thổ Nhĩ Kỳ, rồi trở thành nước của
nhà Muhammad Ali người Albania (1805 - 1953). Ai Cập cũng chịu ảnh hưởng của
Đế quốc Pháp và
Đế quốc Anh.
Tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser (
1954 –
1970) có thể đúng phần nào khi ông cho rằng ông là người Ai Cập chính gốc đầu tiên giữ chức lãnh đạo Ai Cập tự trị từ khi
pharaon Nectanebo II bị quân Ba Tư lật đổ năm
343 TCN.
Mức độ được quan tâm
Ít có lịch sử nước nào sánh được với lịch sử Ai Cập về mức độ được
quan tâm. Một người, dù thuộc chủng tộc nào, văn hóa nào cũng không khỏi
bị lôi cuốn bởi những
kim tự tháp
bên trong có bảo vật, mê hồn trận và những hàng chữ tượng hình, tuy đã
được giải mã, nhưng vẫn còn đượm nhiều huyền bí. Ai Cập thời cổ còn được
biết như
Đất nước của các pharaon.
Ai Cập cũng là cái nôi của một nền văn minh rất cổ xưa, thầy của nền
văn minh Hy Lạp, căn bản của văn minh các cường quốc Âu Mỹ ngày nay. Dưới thời
nhà Ptolemaios (323 - 30 TCN), viện văn hóa
Museion của Alexandria và
thư viện Alexandria cũng là tụ điểm tinh hoa của nền
văn minh Hy Lạp.
Đối với hơn 3 tỷ tín đồ của hai tôn giáo lớn nhất thế giới ngày nay là
Kitô giáo và
Hồi giáo, Ai Cập là đất của kinh điển, nơi các thánh
Abraham,
Jacob,
Joseph và
Moses đã từng trải qua một quãng đời, và được ban nhiều điều mầu nhiệm ghi trong
Kinh Thánh và
Kinh Koran.
Sự thất truyền trên nhiều phương diện của văn minh cổ Ai Cập gợi cho
người ta lòng hiếu kỳ háo hức muốn tìm lại một dĩ vãng huy hoàng của một
thời đã mất, của một dân tộc cổ coi như không còn nữa.
Sau khi bị người Ả Rập vào chiếm và truyền bá
đạo Hồi, Ai Cập dần dần trở thành một nước nói tiếng
Ả Rập, với quốc giáo là đạo Hồi. Nhưng Ai Cập không giữ một vai trò thứ yếu đối với Hồi giáo hay chủng tộc Ả Rập.
Viện đại học Al-Azhar ở thủ đô Cairo được ví như là
tòa thánh Vatican
của thế giới Hồi giáo. Cơ quan điều hành và gìn giữ ngôn ngữ Ả Rập cho
19 quốc gia nói tiếng Ả Rập nằm ở Ai Cập. Đây là những điểm khiến tín đồ
Hồi giáo hay người nói tiếng Ả Rập cũng muốn biết thêm về lịch sử Ai
Cập.
Ai Cập giữ một vai trò hàng đầu trong các cuộc
Thập Tự Chinh giành thánh địa
Jerusalem giữa các nước
Kitô giáo ở
châu Âu và các nước Hồi giáo ở
Trung Đông. Ai Cập là đất dựng nghiệp của người anh hùng
Saladin Khôn Ngoan
nhân đạo và mã thượng, người đã giành lại được Jerusalem cho khối Hồi
giáo, và quan trọng hơn, đã mở cổng cho con đường hoà bình giữa
Âu Châu và
Trung Đông.
Ai Cập cũng là tiền đồn bảo vệ
châu Âu,
châu Phi và
bán đảo Ả Rập khỏi những cuộc tàn sát và tàn phá của
đế quốc Mông Cổ. Khi quân Mông Cổ tiến công năm 1260, vài thế lực
Kitô giáo đã ngưng
Thập Tự Chinh để hợp tác với quân Hồi giáo của Ai Cập, đưa đến chiến thắng
Ain Jalut, chiến thắng đầu tiên mà
Âu Châu và
Trung Đông biết được đối với quân Mông Cổ từ 40 năm. Sự vững mạnh của
nhà Mamluk ở Ai Cập cũng khiến cho nhiều đợt tấn công của
Mông Cổ trong vài mươi năm kế tiếp bị chận đứng.
Lịch sử Ai Cập cũng liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của nhiều danh nhân như
Alexandros Đại Đế,
Julius Caesar hay
Napoléon Bonaparte. Cuộc đời của nhiều danh nhân Ai Cập như
Thutmosis III,
Ramesses II hay
Cleopatra cũng đã được tiểu thuyết hóa hoặc quay thành phim để giới thiệu đến đại chúng khắp nơi.
Những giai đoạn lớn
Thời kỳ cổ đại (khoảng 3100 TCN - 525 TCN)
-
Với những trang sử bắt đầu từ khoảng năm 5000 TCN (hoặc 3000 TCN nếu không tính các nước và các vua trước thời pharaon
Menes) và kết thúc năm 332 TCN hoặc 30 TCN, thời
Ai Cập cổ đại vẫn dài hơn tất cả các thời đại khác của lịch sử Ai Cập cộng lại, và có nhiều vương triều hơn tất cả các thời đại khác.
Đây cũng là thời đại duy nhất mà người Ai Cập nguyên thủy cai trị được toàn lãnh thổ Ai Cập.
Thời kỳ thuộc Ba Tư (525 TCN - 404 TCN ) (343 TCN - 332 TCN)
-
Năm 525 TCN, Ai Cập trở thành một vùng lãnh thổ thuộc
đế quốc Ba Tư cổ đại. Các
Shahanshah Ba Tư (tức Vua của các vua) trị vì trong thời này cũng dùng hiệu
pharaon
tại Ai Cập. Người Ai Cập khôi phục được độc lập trong 61 năm (404 TCN -
343 TCN), trước khi bị Ba Tư đô hộ lần thứ hai (343 TCN - 332 TCN).
Thời kỳ thuộc Hy Lạp (332 TCN - 30 TCN)
-
-
Với cuộc chinh phục của
Alexandros Đại Đế vua xứ
Macedonia, và sự kế nghiệp của
nhà Ptolemaios do một cận tướng của Đại Đế là
Ptolemaios I Soter lập ra, Ai Cập trở thành một thành viên của đại gia đình các quốc gia nói tiếng Hy Lạp.
Thủ đô Alexandria của Ai Cập cũng trở thành trung tâm lớn nhất và rực rỡ nhất của văn minh Hy Lạp. Các vua tộc Hy Lạp thời này cũng dùng hiệu
Pharaon đối với người Ai Cập.
Thời kỳ thuộc La Mã (30 TCN - 642)
-
Ai Cập trở thành tỉnh của La Mã năm 30 TCN và người Ai Cập không được
coi là công dân La Mã trong hơn hai thế kỷ. Đây là thời kỳ mà dân tộc
cổ Ai Cập mất đi bản sắc, và là thời kỳ tôn giáo cổ Ai Cập biến mất,
nhường chỗ cho
Kitô giáo thành tôn giáo chính.
Cuối thời kỳ thuộc La Mã, có một thời gian ngắn Ai Cập bị lệ thuộc Ba Tư lần thứ ba (621 - 629).
Thời kỳ thuộc Ả Rập (642 - 935)
-
Trong cuộc chiến tranh giữa quốc gia Hồi giáo của người Ả Rập và đế
quốc Đông La Mã, đất Ai Cập đổi sang quyền kiểm soát của người Ả Rập.
Thời này cư dân Ai Cập phần lớn bị đồng hóa thành người Ả Rập. Kitô giáo
dần dần trở thành
tôn giáo thứ hai, sau đạo Hồi tôn giáo của giới cai trị.
Với thời gian, quốc gia Hồi giáo biến chất thành đế quốc Ả Rập, và
khi đế quốc Ả Rập suy yếu thì Ai Cập lại có những triều đại địa phương
cai trị.
Nhà Tulunid (868 - 905)
-
Triều đại địa phương đầu tiên là
nhà Tulunid của những tổng đốc
người Thổ Nhĩ Kỳ. Triều đại này đã đặt được những nền móng kinh tế và quân sự vững chắc cho một nước Ai Cập tự chủ.
Nhà Ikhshidid (935 - 969)
-
Sau nhà Tulunid, Ai Cập lại trực thuộc đế quốc Ả Rập thêm 30 năm (905
- 935). Khi đế quốc này suy yếu lần nữa thì Ai Cập thực thụ bước sang
thời kỳ tự chủ với
nhà Ikhshidid.
Nhà Fatima (969 - 1171)
-
Nhà Fatima đã bắt đầu tại
Tunisia từ năm 910, nhưng khi họ chiếm được Ai Cập năm 969 thì họ lập tức cho xây thành phố
Cairo ở Ai Cập và dời đô về đấy. Do đó, đối với Ai Cập thì nhà Fatima bắt đầu vào năm 969.
Nhà Ayyub (1171 - 1250)
-
Nhà Ayyubid khởi nghiệp tại Ai Cập, nhưng dựa trên lực lượng đến từ
Syria. Có nhiều lúc họ cai trị từ
Syria.
Nhà Mamluk (1250 - 1517)
-
Nhà Mamluk là một
triều đại của những người nô lệ trở thành tướng và nối nhau lên ngôi
sultan trị nước. Đây là một hiện tượng đặc biệt có lẽ chỉ có trong
lịch sử Ai Cập và
lịch sử Ấn Độ.
Nhà Mamluk nhiều khi được coi là hai triều đại: nhà Bahri (1250 - 1390) với các lãnh tụ
người Thổ Nhĩ Kỳ và
nhà Burji (1390 - 1517) người
Circassian.
Thời kỳ thuộc Thổ Nhĩ Kỳ (1517 - 1805)
-
Năm 1517, Ai Cập bị sáp nhập vào
đế quốc Ottoman. Các nô tướng Mamluk và con cháu nhà Burji vẫn được người Ottoman trọng dụng trong chính quyền.
Vào cuối giai đoạn này, Ai Cập bị quân Pháp của
Napoléon Bonaparte vào chiếm 3 năm (1798 - 1801).
Nhà Muhammad Ali (1805 - 1953)
-
-
Năm 1805, sultan nhà Ottoman phong cho tướng Muhammad Ali làm tổng đốc Ai Cập. Từ đó, Ai Cập trở thành một giang sơn tự trị của
nhà Muhammad Ali. Ngoài mặt, Ai Cập vẫn là tỉnh hay nước chư hầu của đế quốc Ottoman cho đến năm 1914.
Ai Cập cũng bị
đế quốc Anh
chiếm đóng từ năm 1882, và lập cuộc Bảo Hộ trong khoảng (1914 - 1922).
Người Anh chỉ hoàn toàn rút khỏi Ai Cập năm 1956, sau khi nhà Muhammad
Ali đã bị truất phế.
Mặc dù không lúc nào có được trọn chủ quyền cai trị Ai Cập trên cả
danh nghĩa lẫn thực tế, nhà Muhammad Ali đã có công lớn canh tân đất
nước, khiến Ai Cập trở thành một nước hiện đại bậc nhất thế giới bên
ngoài
châu Âu và
Bắc Mỹ.
Song song với cuộc canh tân, khoa khảo cổ học Ai Cập, chủ yếu do
người Âu đẩy mạnh, cũng đạt được nhiều thành quả vang dội, đáng kể nhất
là chữ viết cổ Ai Cập được giải mã và đọc được trở lại.
Thời cận đại và hiện đại (1953 - nay)
-
Ảnh hưởng phong trào
dân chủ từ
châu Âu, người Ai Cập lập các đảng phái chính trị, đưa đến một cuộc đảo chính do quân đội thực hiện năm 1952 và sự khai sinh nước
Cộng hòa Ả Rập Ai Cập năm 1953.
Ai Cập giữ một vai trò quan trọng hàng đầu trong những cố gắng thống
nhất các xứ nói tiếng Ả Rập, trong những tiến trình chiến tranh và hoà
bình giữa khối Ả Rập và quốc gia Do Thái, và trong lãnh vực văn hóa đối
với các nước bờ nam
Địa Trung Hải.
Tài liệu tham khảo
- Freeman-Greenville, G.S.P. Chronology of World History: A Calendar
of Principal Events from 3000 B.C. to A.D. 1976. 2nd ed. London: Rex
Collings, 1978.
- Grun, Bernard. The Timetables of History: A Horizontal Linkage of
People and Events. 3rd rev. ed. New York: Simon and Schuster, 1991.
Xem thêm
+++++++++++++++++++++++++++++++++
1.3 Ai Cập dưới thời nhà Muhammad Ali
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lịch sử Ai Cập dưới triều đại Muhammad Ali Pasha
(1805 - 1953) là một thời kỳ cải cách và hiện đại hóa nhanh chóng,
khiến Ai Cập trở nên một trong những nước phát triển nhất thế giới bên
ngoài
châu Âu. Nhưng những công cuộc này làm chính phủ chi tiêu quá độ, khiến nhà nước Ai Cập phá sản và rơi dần vào sự kiểm soát của
vương quốc Anh.
Với sự suy yếu của vương quốc này qua hai cuộc thế chiến, các phe nhóm
dân chủ đấu tranh giành độc lập cho Ai Cập ngày càng mạnh lên, và cuối
cùng truất phế nhà vua, lập nước
Cộng hòa Ả Rập Ai Cập.
Các lãnh tụ của nhà Muhammad Ali (1805-1953)
-
-
Lãnh tụ Muhammad Ali (1805 - 1849)
Khởi nghiệp
Năm 1798, quân Pháp, dưới sự chỉ huy của
Napoléon sang chiếm
Ai Cập trong tay
nhà Ottoman.
Nhà Ottoman phát binh sang giành lại Ai Cập, có quân Anh hỗ trợ. Quân
Pháp bị đánh bại, phải rút. Trong đoàn quân Ottoman có viên phó tướng,
người
Albania, tên là
Muhammad Ali (cũng thường biên là
Mehmet Ali hay
Mehmed Ali,
theo khẩu âm Thổ Nhĩ Kỳ) nhanh chóng trở thành một nhân vật uy quyền
nhất Ai Cập. Người Anh cần giữ lực lượng để đối phó với Pháp, và muốn
giữ quan hệ tốt với nhà Ottoman, nên không chiếm Ai Cập. Khi họ rút đi
rồi, thì một cuộc nội chiến tay ba xảy ra giữa quân
Đế quốc Ottoman người
Thổ Nhĩ Kỳ,
quân nô lệ Mamluk Ai Cập, và quân đánh thuê người
Albania. Cuộc nội chiến này kéo dài từ năm
1803 đến năm
1807. Tướng Muhammad Ali trở thành bá chủ đất Ai Cập năm
1805, khi vua Thổ Nhĩ Kỳ là
Selim III (1789-1807) công nhận ông là
Wali, hay
tổng đốc
Ai Cập. Từ đó, Muhammad Ali không bị tranh chấp chủ quyền Ai Cập, và
tập trung được nỗ lực để củng cố một triều đại độc lập. Ông, và một số
con cháu ông thường được gọi với tước hiệu
Pasha đi sau tên. Danh từ
Pasha tiếng Thổ Nhĩ Kỳ có thể chỉ định “quan tổng đốc”, “tướng”,… nói chung có thể dịch là “đại nhân” hay “ngài”.
Những cải cách
Cải cách quân đội (1807 - 1811)
Mặc dù quân Pháp bị quân Anh đánh bại tại Ai Cập, nhưng sau đó, dưới sự thống lĩnh của
Napoléon, họ nhiều lần thắng lợi vẻ vang tại lục địa
châu Âu, nên thường được coi là quân đội mạnh nhất thế giới. Để canh tân quân đội của mình,
Muhammad Ali Pasha đã thuê các sĩ quan Pháp sang huấn luyện cho quân sĩ của ông. Các sĩ quan này được gọi là
nizamiye [1]
Để loại trừ một mầm họa, năm 1811 Muhammad Ali ra lệnh tàn sát hầu hết các nô tướng
Mamluk.
[2]
Chiếm hữu đất đai (1808 - 1817)
Kể từ năm 1808, Muhammad Ali bắt đầu chương trình mua lại đất từ các
tư nhân trong khắp Ai Cập. Những người này bị cưỡng bách bán đất cho
ông, đổi lấy những số tiền chu cấp định kỳ không tương xứng với giá đất.
Ngay khi Muhammad Ali đi đánh Ả Rập Saudi thì chương trình này vẫn được
tiếp tục. Với phương pháp “quốc hữu hóa” hay đúng hơn là “quốc trưởng
hữu hóa” này, Muhammad Ali trở thành chúa đất của phần lớn Ai Cập.
Những cải cách khác
Trong khoảng thời gian 1818 - 1820, Muhammad Ali lại đẩy mạnh những
cải cách: cải tổ điều hành tài chính, hiện đại hóa các cơ cấu, rước
chuyên viên kỹ thuật nước ngoài đến làm việc, và cải thiện nông nghiệp.
[3]
Ông cho xây lại thành phố
Alexandria khoảng năm 1810. Năm 1819, ông cho khởi công đào kênh Mahmudiya để dẫn nước sông Nile vào
Alexandria. Kênh này được đặt tên theo vua
Mahmud II của Thổ. Đến năm 1850 thì Alexandria đã lấy lại được vẻ huy hoàng của thời xưa.
Năm 1822, sau khi chiếm được
Sudan, tướng Mahommed Bey đem
bông vải
từ Sudan về trồng. Kỹ nghệ bông vải được tổ chức và phát triển mạnh,
chỉ mấy năm sau Muhammad Ali đã có được một nguồn lợi quan trọng từ kỹ
nghệ này.
Nền giáo dục trong nước được khuyến khích, và đặc biệt là môn y học.
Năm 1826, ông gởi nhiều sinh viên đi du học ở Pháp, gọi là phong trào
'Rifa'at al-Tahtawi'.
[4]
Về tôn giáo, Muhammad Ali cải cách viện đại học Al-Azhar, được ví như là
toà thánh Vatican của tín đồ Hồi giáo trên thế giới. Ông cũng cho kiểm soát chặt chẽ hơn các đạo viện Hồi giáo.
Các doanh nhân từ
châu Âu
được đặc biệt ưu đãi, vì Muhammad Ali cần đến họ để xuất khẩu hàng hóa
của ông. Hải cảng Alexandria ngày càng thịnh vượng. Hàng hóa giữa châu
Âu và Ấn Độ cũng đi qua đất Ai Cập ngày một nhiều. Hình ảnh giàu mạnh,
văn minh của người Âu cũng khiến cho cộng đồng Cơ Đốc giáo trong nước
được thêm nể trọng.
Chiến tranh tại bán đảo Ả Rập (1811 - 1817)
-
Trước đó, khi người phái
Wahabbi (một phong trào của đạo Hồi kêu gọi trở về tôn giáo “nguyên thủy”) chiếm thành phố
Mecca năm 1802, vua Ottoman ra lệnh tướng Muhammad Ali từ Ai Cập cất quân chiếm lại Mecca. Việc này đưa đến cuộc
Chiến tranh Ottoman-Saudi (1811-1818) giữa Ai Cập dưới triều đại Muhammad Ali (trên danh nghĩa nhà Ottoman) và người phái
Wahabbi của miền
Hedjaz ở
bán đảo Ả Rập.
Chiến dịch thứ nhất (1811 - 1815)
Theo lệnh vua Thổ là
Mahmud II (1808-1839), năm 1811 tổng đốc Muhammad Ali sai con ruột là
Tusun Pasha,
mới 16 tuổi, đem 20.000 quân, 2.000 ngựa đi đánh người Saudi ở bán đảo Ả
Rập. Sau một thời gian tiến quân thành công, lực lượng này bị đẩy lui
tại ải Jejeida gần Al-Safra, và phải rút về Yanbu. Cuối năm, có thêm
viện binh, tướng Tusun lại tiến công. Lần này lấy được thành phố
Medina sau một cuộc bao vây khá lâu. Kế đó tướng Tusun lấy được
Jeddah và Mecca, và lại thắng trận sau đó, bắt được tướng phe Saudi.
Nhưng tình thế lại chuyển thành bất lợi, và tổng đốc Muhammad Ali,
phải đích thân rời Ai Cập vào mùa hè năm 1813 để điều khiển quân sĩ, để
lại con trai là Ibrahim giữ nước. Tuy gặp nhiều chướng ngại vì phong thổ
và chiến thuật của đối phương, ông giữ được thế thượng phong, và phế
được vị Sharif của
Mecca. Sau cái chết của lãnh tụ Saudi là
Saud, ông ký hoà ước với con trai vua Saud là
Abdullah I năm 1815.
Được tin là người Thổ muốn nhân lúc ông vắng mặt đánh lấy Ai Cập để chiếm lại thực quyền, và hoàng đế
Napoléon đã vượt thoát khỏi nơi giam cầm là đảo Elba, tổng đốc Muhammad Ali bèn rút về giữ nước. Ông về đến thủ đô
Cairo đúng vào ngày
Napoléon thua
trận Waterloo.
Chiến dịch thứ nhì (1816 - 1818)
Nghe tin quân đội nổi loạn ở Cairo, công tử Tusun (con của tổng đốc
Muhammad Ali) rút quân về, nhưng qua đời năm 1816 lúc tuổi mới 20. Tổng
đốc Muhammad Ali, không hài lòng với hoà ước ký kết với người Saudi, và
vì trong đó có mấy khoản không thi hành trọn vẹn, nên lại phát binh đánh
bán đảo Ả Rập. Những quân nhân mới nổi loạn trước đó ít lâu đều bị đưa
ra chiến trường.
Chiến dịch này do con trưởng của ông (con nuôi) là
Ibrahim Pasha
điều khiển, khởi sự vào mùa thu năm 1816. Cuộc chiến kéo dài và khó
khăn nhưng đến năm 1818 thì Ibrahim Pasha chiếm được kinh đô Saudi là
Diriyah. Vua Saudi là Abdullah I cùng với thủ quỹ và bí thư của ông bị bắt giải về
Constantinopolis
(kinh đô của đế quốc Ottoman) (có vài tài liệu nói là giải về Cairo).
Mặc dù có lời hứa giữ an toàn của Ibrahim Pasha, họ đã bị xử tử. Công tử
Ibrahim Pasha trở về Cairo khi sắp bước sang năm 1819, sau khi đã đè
bẹp mọi chống đối ở bán đảo Ả Rập.
Đánh Libya (1820)
Tháng 2 năm 1820, Muhammad Ali sai quân đánh đông bộ Libya, lấy được
ốc đảo Siwa.
Chiếm Sudan (1820 - 1822)
Năm 1820, Muhammad Ali sai con út là Ismail đem 4 - 5000 quân, người Thổ Nhĩ Kỳ và Ả Rập, đi xâm lược
Sudan. Đoàn quân rời Cairo vào tháng 7, nhanh chóng chiếm được
Nubia, đánh bại người
Ả Rập Shagia phía nam tỉnh
Dongola, phá được tàn quân
Mamluk, và chiếm được đất
Sennar ở trung bộ Sudan mà không phải đánh trận nào.
Năm 1821,
Ibrahim Pasha cho xây thị trấn
Khartoum,
trở thành thủ đô của Sudan sau này. Năm ấy, Muhammad Ali lại sai tướng
Mahommed Bey, với khoảng 4500 quân và 8 khẩu trọng pháo xâm lược xứ
Kordofan ở trung bộ Sudan. Sau một cuộc chiến khốc liệt, tướng Mahommed
Bey thành công.
Tháng 10 năm 1822, công tử Ismail và đoàn tùy tùng bị vua Nimr của xứ
Shendi
(ở bắc bộ Sudan) thiêu sống. Quyền cai trị Sudan tập trung về một mình
tướng Mahommed Bey, một người tàn bạo hà khắc, khiến dân chúng ở đấy hết
sức là khổ sở. Lúc bấy giờ người Ai Cập cũng kiểm soát thêm được hai
hải cảng của
Biển Đỏ là
Suakin và
Massawa.
Chữ viết cổ Ai Cập “sống lại” (1822)
Người Pháp, lúc sang chiếm Ai Cập, có đào được ở thành Rashid một
phiến đá có ghi chữ Hy Lạp và hai thứ chữ cổ Ai Cập (chữ bình dân và chữ
tượng hình). Lúc bấy giờ môn khảo cổ Ai Cập đã thịnh hành nên khi ký
hoà ước Pháp rút khỏi Ai Cập, có ghi trong tờ hoà ước là Pháp phải
nhượng cho Anh phiến đá đặc biệt đó.
Tháng 5 năm 1816, nhà bác học và ngôn ngữ học Anh
Thomas Young xuất bản tại
Cambridge về một kết quả nghiên cứu sơ khởi về chữ “bình dân” trên
phiến đá thành Rosetta. Năm 1819, trong phần phụ lục của bộ bách khoa tự điển
Encyclopaedia Britannica,
Thomas Young lại tuyên bố đã
giải mã
được 13 chữ cái của văn tự cổ Ai Cập. Sau này kiểm lại chỉ có 5 chữ là
đúng, và hơn nữa những chữ này chỉ tìm được bằng cách phỏng đoán chớ
không phải chứng minh bằng lý luận khoa học.
[5]
Người Pháp, tuy đã giao
phiến đá thành Rosetta,
nhưng có sao lại những dòng chữ khắc trên đó. Giới khảo cổ Pháp cũng
làm việc với giới khảo cổ Anh trong tinh thần cởi mở. Nhờ vậy, một
nhà sử học trẻ người Pháp tên là
Jean François Champollion
căn cứ trên phiến đá này đã tiến đến việc giải mã được toàn bộ chữ viết
cổ Ai Cập bằng chứng minh qua lập luận khoa học. Ngày 27 tháng 9 năm
1822, tại
Académie des inscriptions et des belles-lettres (tạm dịch
Viện hàn lâm văn chương bút ký) của Pháp, có mặt ông
Thomas Young, kết quả cuộc giải mã này đã được công bố.
[6] Năm 1824, nhà nước Pháp xuất tiền cho ông Champollion xuất bản quyển
Précis du système hiéroglyphique des anciens Egyptiens (tạm dịch
Xác định hệ thống chữ tượng hình của người cổ Ai Cập),
[7] đánh dấu sự sống lại của chữ cổ Ai Cập sau 15 thế kỷ thầm lặng.
[8]
Trong chuyến đi khảo cổ tại Ai Cập, Champollion và phái đoàn của ông
đã được lãnh tụ Muhammad Ali đón tiếp ngày 24 tháng 8 năm 1828.
[9]
Với Champollion, kho tàng văn minh cổ Ai Cập như được đưa trở về ánh sáng bằng một chuyến xe tốc hành. Với sự cộng tác của ông
Léon Jean-Joseph Dubois, ông lần lượt xuất bản bộ
Le panthéon égyptien (tạm dịch
Thần giới Ai Cập) với quyển 1 ra mắt độc giả năm 1823 cho đến quyển 15 ra mắt năm 1831.
[10] Ngoài ra ông cũng để lại nhiều công trình khác như bộ
Grammaire égyptienne (Văn phạm tiếng Ai Cập), soạn trong khoảng 1830 - 1832.
[11]
Cuộc nổi dậy của Ahmad (1824)
Năm 1824 tại miền Thượng Ai Cập có người tên Ahmad, ở làng
al-Salimiyyah, cách Thebes vài cây số, xưng là tiên tri, nổi lên chống
lại chính quyền Muhammad Ali. Số người theo ông đông khoảng 2 - 3 vạn,
phần đông là nông dân, kế đến là lính của lực lượng Nizam Gedid đào ngũ.
Giới nông dân vốn căm giận những cải cách của tổng đốc Muhammad Ali,
nhất là sự tăng thuế và cưỡng bách lao động. Phần đông những người đáng
thương này không có vũ khí nào khác hơn là cây gậy
nabbut dài đặc
thù của nông dân Ai Cập. Cuộc nổi dậy này bị đàn áp đẫm máu, khoảng 1/4
số người nổi dậy bị tàn sát. Thủ lĩnh Ahmad thoát được, nhưng từ đó mất
luôn tăm tích. Đây là lần cuối cùng người trong nước toan đánh đổ quyền
chính của tổng đốc Muhammad Ali.
Những năm về sau trong nước rất yên trị. Quân binh tinh nhuệ mà kỷ
luật lại cao. Khách lữ hành đi trên sông Nile hay trên các con đường cái
quan không sợ cướp bóc.
Chiến tranh tại Hy Lạp (1824 - 1828)
Năm 1821 người
Hy Lạp
nổi lên để giành lại độc lập trong tay người Thổ Ottoman. Quân Thổ Nhĩ
Kỳ dần dần núng thế, nên phải gọi tổng đốc Muhammad Ali phát binh đánh
giúp. Muhammad Ali đặt điều kiện là chỉ ra quân nếu được nhà Ottoman
giao cho đảo
Cyprus, đảo
Crete, bán đảo
Peloponnesus ở miền nam Hy Lạp, và đất Syria. Sau khi nhà Ottoman chấp thuận, ông sai con trưởng là Ibrahim Pasha xuất quân.
Năm 1824, 60 tàu chiến và 17.000 quân Ai Cập sang đến đảo Crete, và năm 1825 tràn sang bán đảo
Peloponnesus.
Quân Ai Cập và quân Ottoman tuy bị nhiều tổn thất nặng nề, nhưng dần
dần cũng chiếm được thế thượng phong. Cuộc khởi nghĩa của người Hy Lạp
đã sắp bị dập tắt lúc gần cuối năm 1827, thì quân ba nước đế quốc
Anh,
Pháp,
Nga đến cứu. Ngày 20 tháng 10 năm 1827, tại
trận Navarino
trên biển, liên quân Ai Cập-Ottoman bị liên quân Nga-Anh-Pháp đánh cho
đại bại. Ibrahim Pasha không bỏ cuộc, cố thủ ở Peloponnesus, nhưng sau
đó liệu không địch nổi bộ binh Pháp, nên rút khỏi vùng này vào tháng 10
năm 1828.
Theo hoà ước do người Anh đề nghị, Ai Cập được giữ đảo Crete. Nhà
Ottoman còn tiếp tục đánh đến năm 1832 mới công nhận Hy Lạp độc lập.
Chiến tranh Ai Cập - Thổ lần thứ nhất (1831 - 1833)
Thấy
đế quốc Ottoman
đã suy yếu, Muhammad Ali chiêu mộ binh sĩ, lập một hạm đội mới, quyết
thôn tính Thổ Nhĩ Kỳ. Lấy cớ rằng Abdullah Pasha, tổng đốc thành
Acre ở
Palestine (lúc bấy giờ thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) chứa chấp 6.000 nông dân nghèo
fellah từ Ai Cập trốn thuế và lao động cưỡng bách chạy sang
[12], ông sai công tử Ibrahim Pasha đem quân vào đế quốc Ottoman ngày 31 tháng 10 năm 1831.
Quân Ai Cập chiếm Palestine và Syria dễ dàng, nhưng phải bao vây 6 tháng mới lấy được thành
Acre ở Palestine gần biên giới Ai Cập (3/11/1831 đến 27/5/1832). Được Syria rồi, quân Ai Cập tiến vào
Tiểu Á tức bán đảo Thổ Nhĩ Kỳ. Ngày 21 tháng 12 năm 1832, Ibrahim Pasha đánh bại đại quân Thổ do
Đại Vizia Reshid Mehmed Pasha cầm đầu tại
trận Konya. Từ Konya đến kinh đô
Constantinopolis không còn đạo quân nào ngăn trở nữa, Muhammad Ali sẵn sàng thực hiện nước cờ kế tiếp là truất phế vua
Mahmud II để lập con trưởng vua này là hoàng tử bé thơ
Abdul Mejid lên thay.
Đế quốc Nga
vốn chiến tranh liên miên với Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng lại không muốn nước
láng giềng Thổ Nhĩ Kỳ bị thay thế bởi một đế quốc mạnh hơn, nên đề nghị
giúp đỡ vua
Mahmud II.
Lúc bấy giờ nhà Ottoman vừa trả độc lập cho Hy Lạp và hoà với Nga, nên
nhận sự giúp đỡ quân sự của Nga. Cuộc chiến chuyển thành những vòng đàm
phán do người Nga chủ trì, và cuối cùng đạt đến
thỏa ước Kutahya ký ngày 14 tháng 5 năm 1833.
Theo thỏa ước Kutahya, Muhammad Ali vẫn chỉ được coi là tổng đốc (
Wali),
và phải rút quân khỏi Tiểu Á. Nhưng ông được công nhận quyền cai trị
đảo Crete, đất Hedjaz ở bán đảo Ả Rập. Con ông là Ibrahim Pasha được
quyền cai trị Syria và quận
Adana
ở Tiểu Á. Cha con ông, với tính cách là bề tôi, phải nộp cống cho nhà
Ottoman, nhưng thực ra chỉ phải nộp cống rất ít. Thực tế có lẽ cổ kim
chưa có vị tổng đốc nào có được thực quyền trên một lãnh thổ to lớn ngần
ấy: Ai Cập, Sudan, tây bộ Ả Rập, Syria, Lebanon, Palestine,…
Công tử Ibrahim Pasha áp dụng lối cai trị hà khắc ở Ai Cập tại các
vùng mới chiếm đóng, nên không đầy một năm, người Syria, người theo giáo
phái
Druze (ở
Liban) và người Ả Rập nổi dậy chống đối. Họ bị đích thân Muhammad Ali đem quân đàn áp dã man, và sự uất ức của họ đem lại cho vua
Mahmud II niềm hy vọng sẽ chiếm lại được các vùng họ ở.
Tình hình trong nước (1833 - 1839)
Theo hồi ký của ông
Ferdinand de Lesseps, phó lãnh sự Pháp ở Alexandria, một trận dịch lớn xảy ra trong khoảng 1833-1837 trong vòng 2 năm. Đến một phần ba dân số
Alexandria và
Cairo bị thiệt mạng vì trận dịch này.
Chiến tranh Ai Cập - Thổ lần thứ nhì (1839 - 1841)
Mùa xuân năm 1839 vua
Mahmud II dồn quân đến biên giới Syria. Ibrahim Pasha thấy bị đe dọa bên sườn, bèn ra quân tấn công quân Ottoman tại
trận Nezib ngày 24 tháng 6. Một lần nữa, quân Ottoman bị bại trận. Sáu ngày sau, trước khi tin này về tới kinh đô
Constantinopolis,
Mahmud II qua đời.
Cũng như Nga, hai đế quốc Anh và Pháp không muốn Ai Cập và Thổ hợp
thành một nước lớn mạnh. Quân Anh, với quân Pháp và Hy Lạp tòng chinh,
lập tức xâm lăng Ai Cập. Nhận thấy người Anh và người Pháp có nhiều bất
đồng và hay cạnh tranh nhau, Muhammad Ali cố gắng kéo dài thời gian cầm
cự để chờ liên minh Anh - Pháp tan rã. Nhưng người Pháp nhất định liên
kết với người Anh để chống lại tham vọng của ông, nên Muhammad Ali đã bị
thảm bại nặng hơn.
Ngày 15 tháng 7 năm 1840, các đế quốc Anh,
Áo-Hung, Nga,
Phổ
ký Thỏa ước Luân Đôn, công nhận gia đình Muhammad Ali được truyền đời
cai trị Ai Cập và Sudan, nhưng phải rút khỏi Syria và Lebanon. Muhammad
Ali không chấp nhận thỏa ước này. Hải quân Anh và Áo-Hung bèn phong tỏa
bờ biển châu thổ sông Nile, dội pháo vào
Beirut
(11 tháng 9 năm 1840). Sau khi Acre đầu hàng ngày 3 tháng 11 năm 1840,
Muhammad Ali phải chấp nhận Thỏa ước Luân Đôn ngày 27 tháng 11 năm 1840.
Ông cũng phải rút quân khỏi đảo Crete và miền Hedjaz, và giảm số quân
xuống còn 18.000 người.
Sau khi ông chấp nhận thỏa ước, nhà Ottoman gởi thêm vài thánh chỉ để
phân định ranh giới rõ hơn. Thánh chỉ quan trọng nhất được ban ra ngày
13 tháng 2 năm 1841. Muhammad Ali được giữ
bán đảo Sinai và vài nơi trong bán đảo Ả Rập.
Những năm cuối của Muhammad Ali
Thỏa ước Luân Đôn chấm dứt những cuộc chiến triền miên của thời
Muhammad Ali
và trước nữa. Nhưng năm 1842 Ai Cập bị ngay một mùa lũ lớn của sông
Nile tàn phá. Cũng năm đó mục súc bị bệnh dịch, chết rất nhiều. Năm 1843
có nạn châu chấu phá hại mùa màng, rất nhiều người chết đói, nhiều làng
mạc bị bỏ hoang.
Dân chúng cũng khổ vì cách sống khắc nghiệt trong quân ngũ. Theo như những lá thư của
Florence Nightingale,
cô y tá người Anh nổi tiếng, gởi từ Ai Cập vào khoảng 1849-50, nhiều
nhà sợ con đi lính đến nổi làm cho mù đi một mắt hoặc làm gảy tay lọi
chân. Muhammad Ali biết là dân muốn cho con trốn lính, nên lập ra những
đội quân đặc biệt khuyết tật, như đội pháo binh khuyết năng, bảo rằng
còn một mắt thì vẫn có thể bắn được.
Khổ nhất là những nông dân nghèo
fellah bị bắt buộc phải đi
xây dựng những công trình có ích cho công chúng mà không được trả lương.
Một công trình lớn cuối cùng là năm 1847 Muhammad Ali đặt viên đá đầu
tiên cho một chiếc cầu khổng lồ bắc qua sông Nile nơi bắt đầu vùng châu
thổ.
Sau gần nửa thế kỷ cầm đầu xứ Ai Cập, vào tháng 6 năm 1848 Muhammad
Ali không còn đủ minh mẫn để trị nước. Ông thôi việc triều chính và đến
ngày 2 tháng 8 năm 1849 thì qua đời.
Lãnh tụ Ibrahim Pasha (1848)
Lúc Muhammad Ali già yếu thì
Ibrahim Pasha
trị nước thay cha nuôi. Nhà Ottoman công nhận ông là tổng đốc kể từ
ngày 1 tháng 9 năm 1848. Nhưng đến ngày 10 tháng 11 năm đó thì ông qua
đời, trước cả Muhammad Ali.
Lãnh tụ Abbas I (1849 - 1854)
Abbas I
là con của công tử Tusun, tức là cháu gọi Ibrahim Pasha bằng bác. Từ
lúc Ibrahim Pasha qua đời thì ông cầm quyền nhiếp chính, và đến khi ông
nội ông là Muhammad Ali qua đời năm 1849 thì chính thức trở thành tổng
đốc (
wali) của Ai Cập và Sudan.
Abbas I là người ít nói, và gần như không hề ra khỏi cung điện. Ông
thi hành chính sách ngược lại ông nội ông, về cả điều tốt lẫn điều xấu:
ông hủy bỏ các độc quyền về buôn bán, giảm quân đội xuống còn 9.000
người, và đóng cửa các xí nghiệp cũng như các trường học.
Dưới sức ép của chính phủ Anh, ông cho phép khởi công làm đường hỏa xa nối
Cairo và
Alexandria.
Ông bị hai người nô lệ của ông giết chết vào tháng 7 năm 1854.
Lãnh tụ Sa'id Pasha (1854 - 1863)
Sa'id Pasha
là người con yêu quý nhất của Muhammad Ali. Từng đi du học ở Pháp, nên
ngay năm 1854 (ngày 30 tháng 11) ông đã ký giấy nhượng cho người Pháp
quyền sử dụng
eo đất Suez trong 99 năm
[13]nhằm tiến hành đào và khai thác
kênh Suez. Người đứng ra đốc thúc và chỉ huy công trình này là kỹ sư
Ferdinand de Lesseps, bạn của Sa'id Pasha, từng là phó
lãnh sự Pháp tại
Alexandria. Người Anh tức tối dùng ảnh hưởng với nhà Ottoman ngăn cản công trình này. Đến năm 1856 nhà Ottoman mới chịu ký giấy chấp nhận.
Để xoa dịu, Sa'id Pasha cho phép công ty người Anh là Eastern
Telegraph Company vào thị trường Ai Cập, và cho người Anh lập ngân hàng
Bank of Egypt năm 1854.
Năm 1855, Sa'id Pasha hủy bỏ thuế
Jizya với tín đồ
Cơ Đốc giáo. Ít lâu sau, người
Cơ Đốc giáo lại được cho phép vào phục vụ trong quân đội Ai Cập.
Sa'id Pasha là người có lòng nhân từ. Ông cố gắng bài trừ nạn săn bắt
nô lệ ở Sudan, nhưng không thành công. Ông cũng lo cải thiện đời sống
những người nông dân nghèo
fellah. Năm 1858, ông ra luật cho các nông dân này được sở hữu vĩnh viễn các ruộng đất mà họ canh tác.
Ông cũng phát triển
hạ tầng cơ sở trong nước, như cho đắp thêm
đường sắt thứ nhì nối liền
Cairo và
Alexandria, mở thêm đường sắt đến
hải cảng Al-Suways (
Suez).
[14]
Kỹ sư
Ferdinand de Lesseps đứng ra vận động mở
Công ty Hoàn Vũ kênh Suez nối biển (
Compagnie Universelle du canal maritime de Suez),
với số vốn đầu tư là 200.000.000 quan Pháp, chia làm 400.000 cổ phần
giá 500 quan Pháp. Nhà nước Ai Cập bỏ vào phần hùn là 80 triệu
quan Pháp. Người Pháp bỏ vào khoảng 120 triệu
quan Pháp.
Công ty ra đời ngày 15 tháng 12 năm 1858, với trụ sở chính ở Alexandria
và trụ sở hành chính ở Paris. Trước đó, ngày 5 tháng giêng năm 1856, có
thảnh chỉ quy định rằng 4/5 tổng số nhân công phải là người Ai Cập.
[15] Ngày 20 tháng 7 năm 1856 lại có sắc lệnh quy định điều kiện làm việc cho các nông dân nghèo
fellah tham gia đào kênh.
Ngày 25 tháng 4 năm 1859 công cuộc đào
kênh Suez được bắt đầu. Nơi kênh Suez trổ ra
Địa Trung Hải, một thành phố hải cảng được xây đựng lên, và được đặt tên của Sa'id Pasha:
Port Said.
Người Anh, vốn đang ủng hộ một công trình đường sắt vận tải hàng hóa
đi ngang Ai Cập, và nhất là không muốn người Pháp nắm một vị trí chiến
lược quan trọng là kênh Suez, nên vào tháng 10 năm 1859 lại vận động nhà
Ottoman ra lệnh đình chỉ công trình đào kênh. Ferdinand de Lesseps về
Pháp yết kiến hoàng đế
Napoléon III
nhờ can thiệp. Hoàng đế này tuyên bố rằng đây chỉ là công việc chuẩn
bị, chưa phải là công trình thực thụ, và người Pháp lại tiếp tục.
Năm 1862, vì thiếu nhân lực, Công ty kênh Suez đòi hỏi Sa'id Pasha phải qua hệ thống lao động cưỡng bách (
corvée) cung cấp 10.000 công nhân mỗi tháng.
[16]
Trong thời gian công trình đào kên Suez đang tiến hành thì Sa'id Pasha qua đời (ngày 18 tháng giêng năm 1863).
Lãnh tụ Isma'il Pasha (Isma'il Lộng lẫy) (1863-1879)
Họa đồ kênh Suez năm 1881
Isma'il Pasha là con của Ibrahim Pasha, lên nối nghiệp chú. Ông có ngoại hiệu là
Isma'il Lộng lẫy, tức
Isma'il the Magnificent trong
tiếng Anh. Ông được nhiều huân chương danh dự do các nước ngoài như
Pháp,
Ý,
Phổ,
Hà Lan,… trao tặng.
Thực hiện kênh Suez
Người Anh thừa dịp Sa'id Pasha mất, vận động vua Thổ ra lệnh ngưng đào kênh Suez. Ngày 6 tháng 4 năm 1863, vua Thổ là
Abdul Aziz
đặt điều kiện là phải bãi bỏ lao động cưỡng bách và vùng kênh đào Suez
phải trung lập. Ngày 6 tháng 7 năm 1864, hoàng đế Pháp là
Napoléon III với tư cách là
trọng tài
được mọi bên chấp nhận, bắt buộc nhà nước Ai Cập phải bồi thường Công
ty Suez 84.000.000 quan Pháp, trong đó 38.000.000 vì lý do ngưng cung
cấp phu lao động cưỡng bách.
[17]
Công ty đưa một số máy móc vào thay sức nhân công bị thiếu hụt. Bị khá
nhiều trắc trở, nhưng công cuộc đào kênh Suez vẫn tiến hành, và đưa đến
sự xây dựng một thành phố mới, ở đoạn giữa kênh Suez, được đặt tên của
Isma'il Pasha:
Ismailia.
Trong hai tháng 6 và 7 năm 1865, một trận dịch tả lan ra ở vùng kênh
Suez, khiến những dân phu đi đào kênh bị chết hại rất nhiều. Cuối cùng,
kênh Suez được khánh thành ngày 17 tháng 11 năm 1869, có mặt
hoàng hậu Eugénie của Pháp và chính khách từ nhiều nước được Isma'il Pasha mời tới.
Các cải cách
Cuộc
nội chiến Hoa Kỳ (1861 - 1865) làm giá
bông vải
tăng vọt (miền nam Hoa Kỳ vốn có rất nhiều đồn điền bông vải), khiến
cho nhà nước Ai Cập được khá nhiều lợi nhuận từ bông vải vào đầu đời
Isma'il Pasha. Nguồn lợi này khiến cho Isma'il Pasha bồi thường Công ty
Suez dễ dàng hơn, và tiến hành nhiều cải cách. Ông tái lập và cải thiện
hệ thống hành chính của Muhammad Ali, vốn đã bị phá hỏng bởi Abbas I.
Năm 1865 ông lập nhà bưu điện Ai Cập (Ai Cập đã có hệ thống bưu chính
thời
khalip Mu'Awiya I
(661 - 680)). Ông tái tổ chức các trường võ bị của Muhammad Ali Pasha
lập ra, và nâng số quân lên đến 94.000 năm 1874. Ông cũng ủng hộ ngành
giáo dục đôi chút. Ông thuê các công ty giỏi nhất
châu Âu làm đường hỏa xa, hệ thống
điện báo, các
hải đăng, con đê chặn sóng của
Alexandria. Ông cho mở mang thủ đô
Cairo rộng lớn thêm và cho xây gán vào Cairo một thành phố ở tả ngạn
sông Nin theo kiểu mẫu thành phố
Paris.
Isma'il Pasha cũng tiếp tục đường lối cố gắng bài trừ tệ nạn
buôn bán nô lệ của Sa'id Pasha.
Quy chế nối nghiệp và tước hiệu
Năm 1866 ông được vua Thổ Nhĩ Kỳ chấp thuận thay đổi quy chế nối
nghiệp. Trước nay, theo luật Thổ Nhĩ Kỳ, người nối nghiệp phải là người
đàn ông có tuổi nhất trong gia đình, cho nên đã có trường hợp Sa'id
Pasha là chú nhưng sinh sau (1822) phải lên nắm quyền sau cháu là Abbas
I, sinh năm 1813. Đổi lấy số tiền nộp cống tăng lên gần gấp đôi, từ giờ
trở đi quyền nối nghiệp trở thành ưu tiên cho con trai trưởng.
Năm 1867 Isma'il Pasha lại được nhà Ottoman nhìn nhận là
khedive (
chúa).
Trước nay, những người tiền nhiệm của ông, kể từ Muhammad Ali Pasha chỉ
tiếm xưng chức này, nhưng không được nhà Ottoman công nhận - mặc dù họ
lại ít lệ thuộc vào nhà Ottoman hơn ông.
Năm 1873 lại có thánh chỉ nhà Ottoman nhìn nhận thêm nhiều đặc quyền của các
khedive Ai Cập.
Nợ nần và thuế khóa
Từ khi cuộc
nội chiến Hoa Kỳ
chấm dứt, giá bông vải tụt xuống dần, khiến nhà nước Ai Cập gặp nhiều
khó khăn về tài chính. Isma'il Pasha lại sống phô trương, xa hoa lộng
lẫy, xây cất nhiều cung điện, nên chính quyền đánh thuế dân rất nhiều.
Về điều kiện sống của người dân, trong “Những lá thư cuối cùng từ Ai Cập”,
Duff Gordon phu nhân đã kể:
Tôi không thể tả được cái nghèo ở đây bây giờ với mỗi ngày thêm vài
thứ thuế mới. Mỗi con vật, lạc đà, bò, cừu, lừa và ngựa đều có khoản
thuế. Người nông dân nghèo fellah không còn được ăn bánh mì nữa, họ sống
nhờ ăn cháo lúa mạch, rau sống,… Sưu thuế làm cho người ta không sống
nổi: một thứ thuế cho mỗi loại ngũ cốc, cho mỗi loại súc vật, và lại
đánh thuế lần nữa khi bán ở chợ; trên mỗi người, trên than, trên bơ,
trên muối … Dân chúng ở miền Thượng Ai Cập bỏ xứ mà đi hàng đoàn, vì
không còn trả nổi thuế, không còn làm nổi công việc bị cưỡng bách. Ngay ở
đây (Cairo), những vụ đánh đập để lấy thuế hàng năm thật là đáng sợ.[18]
Bành trướng ở phương nam
Trước đó, năm 1865, Isma'il Pasha được nhà Ottoman ban cho tỉnh
Habesh (
Abyssinia), bấy giờ là một dải đất duyên hải hẹp kề cận nước
Ethiopia. Từ vùng đất này, Isma'il Pasha mở rộng địa bàn, lấn sâu vào đất của hoàng đế
Yohannes IV của Ethiopia (1872 - 1889), lập những đồn điền bông vải rộng bao la.
Phía tây nam, năm 1874 ông chiếm vùng
Darfur ở tây bộ
Sudan.
Nhưng đến
tháng 11 năm 1875 quân ông bị quân Ethiopia đánh tan tác tại
trận Gundet. Tháng 3 năm 1876 quân ông lại bị quân hoàng đế
Yohannes IV của Ethiopia đánh bại tại
trận Gura', con ông là Hassan bị bắt, sau đó phải chuộc bằng một món tiền khổng lồ.
Kiệt quệ tài chính
Tiền nợ của chính phủ Ai Cập, từ 3.000.000
bảng Anh năm 1863, tăng nhanh đến 100.000.000 bảng Anh năm 1874.
[19]
Năm 1875, sự sản xuất trong nước không còn đủ cung cấp cho ngay cả
những nhu cầu cấp bách nhất của bộ máy hành chính. Isma'il Pasha cũng đã
nhiều lần thất hứa trong hạn kỳ trả nợ, nên không còn vay mượn gì được ở
thị trường
châu Âu
nữa. Sưu thuế bấy giờ thường thu trước nhiều tháng. Số nợ khổng lồ lại
tăng nhanh. Isma'il Pasha đành phải bán cho chính phủ Anh 176.602
cổ phần công ty Suez với giá 976.582
Anh kim ngày 25 tháng 11 năm 1875.
Người Anh và Pháp sợ những món tiền đầu tư kếch sù của họ ở Ai Cập bị
tan thành mây khói, nên lập hệ thống "Kiểm soát song phương" để kềm chế
một số thất thoát tài chính trong chính phủ Ai Cập.
Năm 1877, mực nước
sông Nin quá thấp, không đủ cung cấp cho các ruộng nương, vườn tược, dân chúng lại khổ vì thất mùa. Năm đó Ai Cập lại phải cung cấp cho
nhà Ottoman 25.000 quân và lương thảo trong cuộc
Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ (1877–1878).
[20]
Tháng 8 năm 1878, lần đầu tiên Ai Cập lập
thủ tướng theo lối Tây phương. Ông
Nubar Pasha, một người thân tín của Isma'il Pasha, trở thành vị
thủ tướng
đầu tiên. Tháng 9 năm 1878, cuộc “Kiểm soát song phương” được thay thế
bằng sự có mặt của hai bộ trưởng người nước ngoài trong nội các vừa
thành lập của Ai Cập: ông
Charles Rivers Wilson, người Anh, giữ chức bộ trưởng tài chính; ông
Ernest-Gabriel de Blignières, người Pháp, giữ chức bộ trưởng công chánh.
Isma'il Pasha không chịu được những tình trạng kiểm soát gò bó này,
nên ngầm tổ chức một cuộc nổi loạn của quân đội để nắm lại trọn quyền.
Người Anh và Pháp phản ứng bằng cách nhờ nhà Ottoman hạ chiếu chỉ truất
phế ông ngày 26 tháng 6 năm 1879 và lập con trai trưởng của ông là
Tewfik lên thay. Nằm trong thế kẹt,
Isma'il Pasha rời ngôi khedive (chúa) không chút kháng cự nào.
Kiểm soát song phương (1876 - 1882)
Vào tháng 12 năm 1875, chính phủ Anh sai ông
Stephen Cave và
đại tá John Heydon Stokes sang Ai Cập điều tra về tình hình tài chánh. Tháng 4 năm sau, ông
Stephen Cave
công bố một bản tường trình, cho thấy quốc gia Ai Cập sẽ không tránh
khỏi bị phá sản nếu tiếp tục với đường lối hành chính này. Các cường
quốc châu Âu lợi dụng nợ bắt Ai Cập nhượng thêm các đặc quyền.
Bản tường trình của ông
Stephen Cave dẫn đến việc thành lập
Ngân Quỹ Tiền Nợ (
Caisse de la Dette) cho phép nước ngoài kiểm soát phần lớn số tiền của nhà nước Ai Cập thu vào.
Tháng 11 năm 1876, hệ thống “Kiểm soát song phương” được lập ra, qua
đó một viên chức người Anh giám sát tiền thu vào và một viên chức người
Pháp giám sát tiền chi ra của chính phủ Ai Cập. Sự giám sát này lại đưa
đến sự quốc tế hóa đường sắt và hải cảng
Alexandria.
Hai viên chức, George Goschen của Anh và Edmond Joubert của Pháp phân
loại các khoản nợ của nhà nước Ai Cập, và tổng kết thành một con số là
89.308.000
Anh kim, với 6.000.000
Anh kim tiền lãi mỗi năm.
[21]
Năm 1877 thất mùa và phải trang trải phí tổn cho 25.000 quân giúp nhà
Ottoman, nên chỉ trả tiền lãi mà chính phủ Ai Cập đã phải thâm thủng
3.440.000
Anh kim. Năm 1878 vay thêm ngân hàng
Rothschild, đưa tiền nợ lên 98.378.000
Anh kim, nhưng lãi suất được giảm xuống 4%, nên chỉ còn phải trả mỗi năm 4.243.000
Anh kim.
Tháng 5 năm 1878 người Anh và Pháp lại lập một hội đồng điều tra, và
đưa đến sự kiểm soát tài sản riêng khổng lồ của Isma'il Pasha.
Cuộc “Kiểm soát song phương” trên danh nghĩa được chấm dứt vào tháng 9
năm 1878, khi hai ông Rivers Wilson và De Blignières vào nắm hai ghế bộ
trưởng Ai Cập. Nhưng trên thực tế Ai Cập dĩ nhiên vẫn tiếp tục bị Anh
và Pháp kiểm soát.
Trong giai đoạn 09/1878 đến 04/1879, quân đội Ai Cập từ con số 25.000
bị cắt giảm xuống còn 7.000, và khoảng 2.500 sĩ quan bị bớt phân nửa số
lương.
[22]
Sau khi Isma'il Pasha bị truất phế, cuộc “Kiểm soát song phương” lại
được tái lập vào tháng 11 năm 1879. Từ lúc ấy cho đến năm 1882, sự chi
thu của chính phủ Ai Cập nằm trong tay các viên chức người Anh (Evelyn
Baring, rồi đến Auckland Colvin) và người Pháp (Ernest-Gabriel de
Blignières) thi hành “Kiểm soát song phương”.
Lãnh tụ Tewfik Pasha (1879 - 1892)
Lãnh tụ
Tewfik Pasha
kế nhiệm cha trong cảnh nước nhà phá sản, ngoại bang kiểm soát. Tuy
nhiên ông cũng còn quyền và đã dùng quyền một cách sai lầm. Ông ra luật
không cho phép nông dân được thăng tiến thành quan chức. Dân chúng bất
bình nổi lên theo đại tá
Ahmed Arabi, đưa đến sự việc năm 1882 quân Anh vào chiếm đóng Ai Cập. Năm 1884 người Anh đòi ông phải nhượng
Sudan, ông buộc lòng phải chấp thuận.
Ông không hoàn toàn bị mất quyền. Vào ngày 9 tháng 6 năm 1888 ông bãi chức
thủ tướng Nubar Pasha và sau đó mời
Riaz Pasha về lập chính phủ.
Viên tổng lãnh sự Anh là Evelyn Baring khuyến khích ông phô trương
những hoạt động trị dân của ông. Ông chăm lo việc thủy lợi, giáo dục và
công lý. Lúc Alexandria bị dịch tả năm 1883, ông không sợ bệnh, đi thăm
viếng, ủy lạo dân chúng. Nhờ vậy nhà Muhammad Ali tiếp tục được phần nào
sự ủng hộ của người dân.
Ai Cập bị chiếm đóng bởi người Anh (1882 - 1936)
Cuộc khởi nghĩa của Ahmad Arabi (1881 - 1882)
-
Cuộc “Kiểm soát song phương” làm cho tinh thần quốc gia ở Ai Cập ngày
càng dâng cao. Các nhóm ái quốc Ai Cập viết những vở tuồng, những bài
báo đòi độc lập và một chế độ có
hiến pháp. Nhiều người ảnh hưởng tư tưởng của ông
Jamal al-Din al-Afghani, kêu gọi tín đồ
Hồi giáo đoàn kết chống lại
thực dân châu Âu.
Năm 1881 đại tá
Ahmad Arabi
(cũng viết là Urabi, hay Anh hóa là Orapy,…) dấy quân chống lại bộ
trưởng Bộ Chiến tranh, rồi tiếp đến chống lại Tewfik Pasha. Ông đòi hỏi
lập hiến pháp qua bầu cử của đại chúng, và tăng thêm ngân sách cho quân
đội. Các phe nhóm yêu nước theo ông rất đông, trong đó có nhiều
người Copt theo Cơ Đốc giáo. Đầu năm 1882 họ nắm nội các và quân đội. Những cuộc phiến loạn nổ ra ở các thành phố hải cảng.
Từ thời Sa'id Pasha và Isma'il Pasha, người Ai Cập dần dần được có
chức vụ trong quân đội. Các sĩ quan Ai Cập lập các bang, hội kín để
chống lại sự kỳ thị chủng tộc, ưu đãi các sĩ quan người Thổ Nhĩ Kỳ và
người Circassian, có đặc quyền từ nhà Ottoman và
nhà Mamluk.
Các nhóm này nay trút cơn giận của họ lên người Thổ Nhĩ Kỳ, người
Circassian, người Âu rồi luôn cả tín đồ Cơ Đốc giáo người Ai Cập.
Trước tình thế này, vào tháng 5 người Anh và Pháp cho tàu chiến đến phong tỏa hải cảng
Alexandria.
Điều này khiến tình hình căng thẳng thêm. Hơn 100 người nước ngoài bị
giết. Ngày 11 tháng 7 năm 1882, tàu chiến Anh nã pháo vào
Alexandria. Các đại sứ hội nghị ở
Constantinopolis,
nhà Ottoman được mời đem quân vào bình định Ai Cập, nhưng họ từ chối.
Chính phủ Anh mời Pháp cộng tác để chiếm đóng Ai Cập. Pháp từ chối. Anh
mời Ý, Ý lại cũng từ chối.
Tháng 8 năm 1882, quân Anh đổ bộ Ai Cập qua ngã các thành phố
Port Said,
Suez và
Ismailia bên kênh Suez. Người Ai Cập đánh lui được quân Anh tại
trận Kafr-el-Dawwar, nhưng ngày 13 tháng 9 năm 1882 bị thua trận đánh quyết định
Tel el-Kebir.
Ahmad Arabi bị bắt tại Cairo, Egypt, và xử án ngày 3 tháng 12. Ông bị kết án tử hình nhưng được giảm xuống lưu đày sang
Tích Lan. Đến tháng 5 năm 1901 thì ông được khedive (chúa) Abbas II ân xá và trở về Ai Cập.
Thời kỳ trước Bảo Hộ (1882 - 1914)
Người Anh lập lại Tewfik Pasha. Có lẽ ban đầu họ không muốn ở lâu,
nhưng thấy tình hình tài chính trong nước cần nhiều sửa đổi dài hạn nên
đã đổi ý. Mặc dù có thực quyền nhưng trên danh nghĩa họ vẫn coi Ai Cập
là đất của
nhà Ottoman.
Ngày 29 tháng 10 năm 1888,
Hiệp định Constantinople (
Convention of Constantinople) được ký kết giữa các nước
Anh,
Áo-Hung,
Đức,
Hà Lan,
Nga,
Pháp,
Tây Ban Nha, và
Thổ Nhĩ Kỳ quy định rằng
kênh Suez
trung lập, ai cũng có quyền đi qua, trong thời bình cũng như thời
chiến, nhưng cũng công nhận quyền của các khedive (chúa) Ai Cập được có
những biện pháp để giữ nước hoặc giữ vững trị an.
Ngày 7 tháng 1 năm 1892, Tewfik Pasha qua đời. Con trưởng là
Abbas II nối ngôi.
Tháng giêng năm 1894, sau khi bị người Anh ép buộc phải rút lại một lời phê bình quân Ai Cập do tướng Anh là
Herbert Kitchener điều khiển,
Abbas II bèn bí mật thành lập và yểm trợ phong trào quốc gia do ông
Mustafa Kamil cầm đầu.
Cuối thế kỷ 19, đế quốc Pháp bành trướng thành đế quốc có lãnh thổ rộng lớn nhất
châu Phi. Năm 1898, họ muốn được người Anh nhượng quyền tại
Sudan và
Ai Cập nên đưa quân đến Fashoda (cách
Khartoum khoảng 650 km về phía nam). Việc này đưa đến cuộc
khủng hoảng Fashoda.
Từ tháng 7 đến tháng 12 năm 1898, quân Pháp và Anh ở trong tình trạng
sẵn sàng giao chiến. Rốt cuộc, người Pháp rút lui, chiến tranh không xảy
ra giữa Pháp và Anh.
Khi tướng Anh là
Herbert Kitchener đối thoại với tướng Pháp là
Jean-Baptiste Marchand
tại Fashoda, ông đã nói đại ý rằng “tôi giữ đất Fashoda nhân danh nhà
Ottoman và khedive của Ai Cập”. Điều này cho thấy người Anh cũng còn tôn
trọng nhà Ottoman và nhà Muhammad Ali phần nào.
Ngày 8 tháng 4 năm 1904, người Pháp ký tại
Luân Đôn
một thỏa ước cam kết rằng họ sẽ không cản trở cuộc cai trị của người
Anh tại Ai Cập, và cũng không yêu cầu Anh rút khỏi Ai Cập. Qua thỏa ước
này, người Anh cũng để cho Pháp rảnh tay củng cố thế lực ở các thuộc địa
hoặc các vùng ảnh hưởng khác.
Năm 1906, có
sự kiện Denshawai (
the Denshawai incident),
dân làng Denshawai bị sĩ quan Anh và pháp lý Anh ức hiếp, khiến cho sự
uất ức và tinh thần quốc gia của người Ai Cập tăng cao. Nhưng trong lúc
nhất thời, người Ai Cập không ngăn được người Anh tiến thêm một bước,
đổi Ai Cập thành đất bảo hộ của Anh.
Thời kỳ Bảo Hộ (1914 - 1922)
Ngày 28 tháng 6 năm 1914,
Thế chiến thứ nhất bùng nổ. Tháng 10 năm 1914,
đế quốc Ottoman theo
Liên minh trung tâm đánh phe
Entente của
vương quốc Anh.
Người Anh bèn tuyên bố Ai Cập là đất Bảo Hộ của Anh, và không còn là
đất của nhà Ottoman nữa. Ngày 19 tháng 12 năm đó, người Anh phế khedive
(chúa) Abbas II, lập chú ông là
Husayn Kamil, lại cho Husayn Kamil xưng là
sultan (Hồi vương), ngang với các lãnh tụ nhà Ottoman.
Người Anh cũng không còn tôn trọng sự trung lập của kênh Suez ký kết trong
Hiệp định Constantinople năm 1888. Họ cấm các tàu thuyền của
Liên minh trung tâm đi qua kênh này. Năm 1915, quân Ottoman từ
bán đảo Sinai đánh vào kênh Suez, nhưng bị quân Anh đẩy lui.
Năm 1917, từ Ai Cập, quân Anh liên tiếp thắng quân Ottoman, lần lượt chiếm
Gaza,
Jerusalem. Năm 1918, họ lại thắng và chiếm
Damascus,
Beirut, và
Aleppo.
Ngày 9 tháng 10 năm 1917, sultan
Husayn Kamil
qua đời. Con trai độc nhất của ông là Kamal al-Din Husayn nhất định
không chịu nối ngôi khi thực quyền còn trong tay người Anh, nên em trai
ông là
Fuad I lên thay.
Cuối năm 1918,
Thế chiến thứ nhất chấm dứt. Những người Ai Cập yêu nước giờ đã quy tụ khá đông quanh
đảng Wafd do ông
Saad Zaghlul lãnh đạo. Đầu tháng 3 năm 1919, người Anh bắt ông
Saad Zaghlul và một số cộng tác viên đem an trí ở
đảo Malta. Người Ai Cập phản ứng ngày 8 tháng 3, họ phát động cuộc
cách mạng Ai Cập năm 1919 (
Egyptian Revolution of 1919), một cuộc tranh đấu
bất bạo động, bất hợp tác với chính quyền Anh. Trong mấy tuần, cho đến tháng tư năm 1919, những vụ
đình công và
biểu tình
được tiến hành khắp nơi trong nước. Sinh viên, công chức, doanh nhân,
nông dân, công nhân, tu sĩ, phụ nữ, tín đồ Cơ Đốc giáo lẫn tín đồ Hồi
giáo đều tham gia cuộc cách mạng này.
Những phụ nữ yêu nước biểu tình tại
Cairo,
1919.
Theo tờ New York Times số ra ngày 25 tháng 7 năm 1919, con số tử vong
của người Ai Cập trong cuộc cách mạng cho đến lúc ấy là 800 người, và
số bị thương là 1600 người.
[23]
Người Anh nhượng bộ, thả ông
Saad Zaghlul về nước ngày 7 tháng 4 năm 1919. Họ cũng chấp thuận cho phái đoàn của đảng Wafd tham dự
hội nghị hoà bình Versailles
ở Pháp. Ngày 11 tháng 4 năm 1919, phái đoàn đảng Wafd đến Versailles
điều đình đòi người Anh trả độc lập cho Ai Cập. Sự yêu cầu của họ đã bị
từ khước. Tại đấy, Hoa Kỳ, nước mạnh bậc nhất sau thế chiến, khăng khăng
ủng hộ Anh tiếp tục chiếm giữ Ai Cập.
Tháng 11 năm 1919, nước Anh cử
hội đồng Milner (the Milner Commission) sang Ai Cập để giải quyết tình hình. Năm 1920, tử tước
Alfred Milner đưa bản tường trình lên bộ trưởng ngoại vụ là hầu tước
George Curzon,
đề nghị rằng phải đổi quy chế bảo hộ thành một thỏa ước liên kết với Ai
Cập. Hầu tước Curzon bèn chấp thuận tiếp kiến phái đoàn của ông
Saad Zaghlul và hoàng thân
Adli Pasha. Phái đoàn này đến
Luân Đôn vào tháng 6 năm 1920 và thỏa thuận được đúc kết vào tháng 8 năm 1920. Vào tháng 2 năm 1921,
nghị viện Anh
phê chuẩn đồng ý thỏa thuận này và đòi hỏi Ai Cập gởi đến một phái đoàn
có toàn quyền để ký một thỏa ước dứt khoát. Tháng 6 năm 1921, Adli
Pasha cầm đầu phái đoàn Ai Cập đến Anh quốc. Nhưng, trong
hội nghị đế quốc (
Imperial Conference) tại Luân Đôn năm 1921, các đại biểu của “đế quyền” (
Dominion)
nhấn mạnh rằng Anh quốc phải nắm quyền kiểm soát vùng kênh Suez. Do đó
bộ trưởng Curzon không thuyết phục được nội các chấp nhận các điều kiện
mà Adli Pasha sẵn sàng ký kết. Cho nên phái đoàn ông Adli thất vọng trở
về.
Sự chống đối gia tăng của người Ai Cập đưa đến sự ban hành
thiết quân luật của chính quyền Anh tại
Cairo vào tháng 12 năm 1921. Họ lại bắt ông Saad Zaghlul đem an trí ở
Aden, rồi ở đảo
Seychelles
năm 1921. Người Ai Cập phản đối, và mãnh liệt hơn tại các vùng thôn
quê. Họ tấn công vào các thiết bị quân sự, dân sự và nhân viên người
Anh. Những phản đối này khiến
Luân Đôn đã ký tuyên bố Ai Cập độc lập ngày 22 tháng 2 năm 1922.
Thời kỳ sau Bảo Hộ (1922 - 1936)
Ngày 16 tháng 3 năm 1922,
Fuad I cải hiệu, không xưng là
sultan nữa, mà xưng là
vua của Ai Cập và
Sudan, kèm thêm tước hiệu
quân vương (
sovereign) của
Nubia,
Kordofan và
Darfur - là những xứ nằm trong địa phận Sudan ngày nay.
Tuy tiếng là độc lập, nhưng Ai Cập vẫn còn bị người Anh thao túng khá
nhiều về chính trị, hành chính, thuế vụ, và các cải cách. Ngoài ra,
quân Anh vẫn trấn giữ
kênh Suez,
Sudan và các thuộc địa khác của Ai Cập. Và quân Anh vẫn chưa rút khỏi Ai Cập.
Ngày 19 tháng 4 năm 1923 Ai Cập theo một hiến pháp mới, do
đảng Wafd soạn thảo, quy định vua có quyền cao nhất, được các bộ trưởng phụ tá trong việc trị nước, nhưng cũng bị chia quyền bởi hai
nghị viện, đảm trách bàn thảo và ban hành luật lệ. Ngày 16 tháng 1 năm 1924 nhà cách mạng
Saad Zaghlul trở thành vị
thủ tướng được dân bầu cử đầu tiên trong lịch sử Ai Cập. Quần chúng coi ông là vị anh hùng dân tộc.
[24] Nhưng ông chỉ ở tại chức không đầy 1 năm. Sau khi ông
Lee Stack, toàn quyền (
governor-general)
Sudan bị ám sát, và các đòi hỏi của người Anh mà ông thấy không thể chấp nhận, ông từ chức ngày 24 tháng 11 năm 1924.
Nhà cách mạng Saad Zaghlul
Chính sự Ai Cập sau đó gặp nhiều rối ren, như năm 1928
quốc hội bị giải tán, và một phần của
hiến pháp không còn được tôn trọng. Năm ấy,
Hasan al Banna lập phong trào
Anh em Hồi giáo (
Muslim brotherhood) chống lại đảng Wafd và xu hướng theo Âu tây trong xã hội. Năm sau, lại có
Ahmad Husayn lập phong trào “Misr-al-Fatat” (
Ai Cập trẻ). Ngày 4 tháng 10 năm 1929, thủ tướng
Muhammad Mahmoud Pasha thoái chức, tòng nam tước
Percy Lyham Loraine giữ chức toàn quyền (
Governor General) Ai Cập trong 2 tháng, trước khi Ai Cập chọn được một thủ tướng khác. Năm 1931, đảng Wafd tẩy chay bầu cử, đảng Al-Sha'ab (
đảng Nhân Dân) lên nắm chính quyền. Từ năm 1933 đến năm 1936, vua
Fuad I đích thân trị nước. Trong thời gian này, nhờ có những nhân vật uy tín như ông
Sarwat Pasha hay ông
Adli Pasha trở lại đảm trách chức thủ tướng, nên Ai Cập cũng được khá vững mạnh, để tiến đến việc đòi lại độc lập toàn vẹn.
Ngày 28 tháng 4 năm 1936, vua
Fuad I qua đời. Hoàng tử Farouk, 16 tuổi, lên nối ngôi, thành vua
Farouk I. Triều đình lập Hội Đồng Nhiếp Chính do Hoàng tử Muhammad Ali Tewfik làm chủ tịch trong thời gian vua
Farouk I được coi là chưa trưởng thành.
Năm 1936 hiến pháp được tái lập. Cả nước bầu cử, đảng Wafd trở lại nắm chính quyền. Ông
Mustafa el-Nahhas, một chiến hữu từng bị lưu đày sang
Seychelles cùng với nhà cách mạng
Saad Zaghlul,
cũng từng là thủ tướng năm 1928 và 1930, trở lại làm thủ tướng Ai Cập.
Ngày 26 tháng 8 năm 1936, chính phủ Ai Cập và chính phủ Anh ký
hiệp ước Anh - Ai Cập 1936: Anh rút hết quân khỏi Ai Cập, chỉ còn đóng ở vùng
kênh đào Suez.
Vua Farouk I (1936 - 1952) và Fuad II (1952 - 1953)
-
Thời kỳ trước Đệ Nhị Thế Chiến (1936 - 1939)
-
Hiệp ước Anh - Ai Cập 1936 cũng quy định rằng Anh huấn luyện quân đội
và cung cấp quân nhu cho Ai Cập, đồng thời sẽ cứu viện nếu Ai Cập bị
xâm lăng. Ai Cập lúc ấy cảm thấy bị đe dọa bởi
vương quốc Ý, đang bành trướng ở
Ethiopia mặt nam và ở
Libya phía tây.
Vua
Farouk I
vào lúc đầu, nhờ có mẹ là người bản xứ, và nhờ Anh rút quân, nên khá
được lòng dân. Nhưng ông sống xa xỉ, hay đi Âu châu mua sắm, nên lần hồi
mất lòng dân.
-
Khi tình hình châu Âu căng thẳng, người Anh đã mượn đất Ai Cập làm căn cứ đóng quân và lập “
Quân khu Trung Đông” có trụ sở tại
Cairo vào tháng 6 năm 1939.
[25]
Nhưng năm 1940, vua Farouk I lại từ khước không chịu tuyên chiến với
phe Trục. Đảng Wafd thì tuyên bố chống lại
chủ thuyết Nazi của
Adolf Hitler. Từ ngày 9 đến 16 tháng 9 năm 1940, quân Ý đến xâm lăng Ai Cập, nhưng bị liên quân Anh và
Pháp Tự do đánh bại. Đặc biệt trong lúc quân Ý nã pháo vào
Alexandria, cả thành phố cúp điện, thì cung vua
Farouk I vẫn mở đèn sáng choang, khiến nhân dân nhiều người chua chát.
Quân Anh đóng tại Ai Cập, thống lĩnh bởi các tướng
Archibald Wavell, đến
Claude Auchinleck, rồi
Bernard Montgomery
thường dựa vào Ai Cập để chống với quân Trục ở Bắc Phi. Nói đến Đệ nhị
thế chiến tại Ai Cập, người ta thường nhắc đến hai trận El Alamein, với
trận thứ nhì được coi là bước ngoặt của Thế chiến, đưa phe Đồng Minh sang thế thượng phong.
Tháng 2 năm 1942, người Anh buộc Ai Cập phải được cầm quyền bởi đảng Wafd. Một lần nữa, ông
Mustafa el-Nahhas trở lại làm thủ tướng, cho đến khi bị vua Farouk I cách chức vào tháng 10 năm 1944.
Ahmad Mahir Pasha lên thay, cực lực chống lại tổ chức
Anh em Hồi giáo, và đã tuyên bố một
fatwa (
sắc dụ)
chống lại tổ chức này. Tháng 1 năm 1945, Ahmad Mahir Pasha nhân danh Ai
Cập tuyên chiến với Đức và Nhật. Ngày 24 tháng 2, ông bị một thanh niên
28 tuổi giết chết tại quốc hội vì lời tuyên chiến này.
Sau Đệ nhị thế chiến (1945 - 1952)
-
Người thủ tướng kế nhiệm là
Mahmoud an-Nukrashi Pasha bị một thành viên của tổ chức
Anh em Muslim giết tại văn phòng năm 1948.
Năm ấy, nước
Do Thái được tái lập. Để bảo vệ người Ả Rập sinh sống trên đất Palestine bị người Do Thái giành đất, 5 nước tộc Ả Rập là
Ai Cập,
Liban,
Jordan,
Syria và
Iraq
hợp binh quyết diệt nước Do Thái. Cuộc chiến kéo dài đến năm 1949, Do
Thái giữ được nước. Người Ả Rập coi đó là một sỉ nhục lớn của dân tộc.
Họ quy lỗi cho sự bất tài của các chính quyền, và ảnh hưởng của người
Âu. Năm 1948 đại tá
Gamal Abdel Nasser lập
Phong trào Công chức Tự do nhằm lật đổ hoàng gia và đuổi các cố vấn Anh. Phong trào này thực hiện được
Cuộc cách mạng năm 1952, buộc vua Farouk I thoái vị và nhường ngôi cho con là
Fuad II. Ngày 18 tháng 6 năm
1953, chế độ quân chủ bị bãi bỏ, Ai Cập được tuyên bố trở thành một nước
cộng hoà.
Nhà Muhammad Ali chính thức cáo chung.
Kết quả của cuộc canh tân
Nước Ai Cập ở gần châu Âu, và có nhiều qua lại tiếp xúc với người Âu,
nên dễ nhận thức được sự tiến bộ của các nước châu Âu thời cận đại.
Chính các lãnh tụ, từ
Muhammad Ali Pasha cho đến
Isma'il Pasha,
đã tích cực canh tân, và mở rộng cửa cho các công ty, tập đoàn kỹ nghệ
người Âu vào làm việc tại Ai Cập. Do đó có lẽ không có nổi tiếc nuối của
người đời sau về trường hợp của một
Nguyễn Trường Tộ Ai Cập bị chê cười bác bỏ về những điều tai nghe mắt thấy, về những đề nghị canh tân đất nước.
Tuy nhiên, mặc dù đã có thực hiện canh tân, nhưng cuộc canh tân của
nhà Muhammad Ali đã không đem lại mấy hạnh phúc cho người dân, và không
cứu được nước Ai Cập khỏi bị nước ngoài vào cai trị.
Khi canh tân, các lãnh tụ đã dùng sức dân nhiều quá, khiến tiềm năng
phát triển đất nước bị suy yếu. Trong gần 150 năm thời nhà Muhammad Ali,
người Ai Cập hình như không lập được một xí nghiệp kỹ nghệ nào có tầm
cỡ lớn, được thế giới biết đến, như
Matsushita trong ngành
điện tử của Nhật, hay
Tata Steel trong ngành
luyện thép của Ấn Độ.
Và trong thời này, nền giáo dục và nghiên cứu Ai Cập cũng không đào
tạo được một tên tuổi lớn về khoa học kỹ thuật nào, dù là từ cộng đồng
Hồi giáo chiếm đa số, hay là từ các cộng đồng thiểu số là
Cơ Đốc giáo và
Do Thái giáo. Nhà khoa học Ai Cập
Moustafa Mosharafa (1898-1950), được
Albert Einstein coi là một trong những nhà
vật lý học
giỏi nhất thời đó - nhưng ít ai biết đến vì không có phát minh, lập
thuyết nào nổi bật - chỉ học ở Ai Cập hết bậc trung học, rồi tiếp tục
cấp đại học ở Anh. Trong khi đó, tại một xứ canh tân trễ hơn là
Nhật Bản,
Hideki Yukawa, học đại học tại nước nhà, đã viết thuyết
meson (
nguyên tử học) năm 1935 và được trao
giải Nobel năm 1949. Trường hợp khác, như tại
Ấn Độ,
Satyendra Nath Bose, được biết đến qua
luật phân bố Bose-Einstein về
photon và
nguyên tử (1920-1924) chẳng hạn, đã được đào tạo tại các trường đại học ở
Calcutta và
Dhaka (trên tiểu lục địa Ấn Độ) của chính quyền
thực dân Anh. Nhà bác học Ấn Độ
C.V. Raman, được trao giải Nobel về vật lý năm 1930, cũng đã học đại học tại
Madras và nghiên cứu tại đại học
Calcutta.
Nhìn lại dĩ vãng, khoa học kỹ thuật tại Ai Cập vẫn từng đứng hàng đầu thế giới từ thời cổ đại cho đến đầu thời
nhà Mamluk
(1260 - 1517). Nhưng có lẽ vì các lãnh tụ nhà Muhammad Ali không triệt
để khuyến khích các ngành nghiên cứu, không phát triển các trường đại
học đúng mức, cho nên khoa học kỹ thuật tại Ai Cập đã không được “thức
giấc”. Năm 1875, ngoại trừ các viện đại học tôn giáo, Ai Cập chỉ có 7
trường đại học hoặc trường chuyên môn, với 69 giáo sư và 356 sinh viên,
và 7 trường này đều ở tại thủ phủ
Cairo [26]. Cũng có nhiều lý do khác, khó đề cập hết trong phạm vi của bài, khiến cho Ai Cập tiếp tục bị chậm trễ sau thời canh tân này.
Quá trình nhân khẩu học
Dân số Ai Câp được ước lượng khoảng 4 triệu vào năm 1805
và bắt đầu tăng nhanh vào thập niên 1840. Cuộc thống kê dân số theo
phương pháp hiện đại được thực hiện năm 1897, đưa ra con số 9 734 405
người.
Dân số Ai Cập lên đến hơn 14 triệu vào năm 1927 và 19 triệu vào năm 1947, trong đó số người hoạt động chiếm khoảng 35%
[28].
Nhìn chung, dân số Ai Cập đã tăng khoảng gấp 5, nhưng sự gia tăng đó
lại cũng rất chậm so với giai đoạn 1950 - 2000, vì trong giai đoạn ngắn
ngủi này họ đã đông thêm gần gấp 4 lần.
Chú thích
- ^ Les grandes dates de l'Islam, tr. 155.
- ^ Quid 1990, Dominique et Michèle Frémy, tr. 924.
- ^ Les grandes dates de l'Islam, tr. 155.
- ^ Les grandes dates de l'Islam, tr. 155.
- ^ Champollion - Un scribe pour l'Egypte. Michel Dewachter, tr 49.
- ^ Champollion - Un scribe pour l'Egypte. Michel Dewachter, tr 46.
- ^ Champollion - Un scribe pour l'Egypte. Michel Dewachter, tr 48.
- ^ Champollion - Un scribe pour l'Egypte. Michel Dewachter, tr 39.
- ^ Champollion - Un scribe pour l'Egypte. Michel Dewachter, tr 80.
- ^ Champollion - Un scribe pour l'Egypte. Michel Dewachter, tr 55.
- ^ Champollion - Un scribe pour l'Egypte. Michel Dewachter, tr 92.
- ^ Egypt in the reign of Muhammad Ali, Afaf Lutfi al-Sayyid Marsot, University of Cambridge, 1983.
- ^ Hồ sơ lưu trữ quốc gia FONDATION NAPOLEON ET CENTRE HISTORIQUE DES ARCHIVES NATIONALES : http://www.napoleon.org/fr/salle_lecture/chronologies/files/suez.asp
- ^ The Middle East in the World Economy, 1800-1914, tr 123.
- ^ http://fr.structurae.de/projects/data/index.cfm?id=p00183
- ^ http://fr.structurae.de/projects/data/index.cfm?id=p00183
- ^ http://fr.structurae.de/projects/data/index.cfm?id=p00183
- ^ Nguyên
văn: “I cannot describe the misery here now every day some new tax.
Every beast, camel, cow, sheep, donkey and horse is made to pay. The
fellaheen can no longer eat bread; they are living on barley-meal mixed
with water, and raw green stuff, vetches, &c. The taxation makes
life almost impossible: a tax on every crop, on every animal first, and
again when it is sold in the market; on every man, on charcoal, on
butter, on salt … The people in Upper Egypt are running away by
wholesale, utterly unable to pay the new taxes and do the work exacted.
Even here (Cairo) the beating for the years taxes is awful.”
- ^ http://encarta.msn.com/encyclopedia_761554408/ismail_pasha.html
- ^ The Middle East in the World Economy, 1800-1914, tr 132.
- ^ The Middle East in the World Economy, 1800-1914, tr 132.
- ^ The Middle East in the World Economy, 1800-1914, tr 134.
- ^ NY Times. 1919
- ^ The History of Modern Egypt, P.J. Vatikiotis, 4th ed., tr. 279.
- ^ History of the Second World War, United Kingdom Military Series. tr. 459
- ^ Les grandes dates de l'Islam, tr. 155.
- ^ Population active et structures économiques de l'Egypte, tr 465-490.
Tham khảo
- Vương Thuyền
- FONDATION NAPOLEON ET CENTRE HISTORIQUE DES ARCHIVES NATIONALES : http://www.napoleon.org/fr/salle_lecture/chronologies/files/suez.asp Béatrice de Durfort, Luc Forlivesi, Philippe Feinsilber, Olivier Mevel.
- [1] Korotayev A. and Khaltourina D.: Introduction to Social Macrodynamics: Secular Cycles and Millennial Trends in Africa.
- 100 years of the Suez Canal, Brighton, R.E.B. Duff, Clifton Books, 1969.
- 'Abd al-Rahman al-Jabarti's History of Egypt. 4 vols. al-Jabarti, Abd al-Rahman. 1994. T. Philipp and M. Perlmann, translators. Stuttgart: Franz Steiner Verlag. ISBN 3-515-05756-0
- All The Pasha's Men: Mehmed Ali, his army and the making of modern
Egypt. Fahmy, Khaled. New York: American University in Cairo Press 1997.
ISBN 977-424-696-9
- Champollion - Un scribe pour l'Egypte. Michel Dewachter, Editions Découvertes Gallimard, Evreux 1990. ISBN 2-07-053103-1.
- Egypt and Cromer: A Study in Anglo-Egyptian Relations. al-Sayyid, Afaf Lutfi. London: John Murray, 1968.
- Ferdinand de Lesseps, par Ghislain de Diesbach, Editions Perrin, 1998.
- History of the Second World War, United Kingdom Military Series. The
Mediterranean and Middle East, Volume I The Early Successes Against
Italy (to tháng 5 năm 1941). Playfair, Major-General I.S.O.; with Stitt
R.N., Commander G.M.S.; Molony, Brigadier C.J.C. & Toomer, Air
Vice-Marshal S.E. (2004) [1st. pub. HMSO 1954]. Butler, J.R.M. ed. Naval
& Military Press. ISBN 1-84574-065-3.
- Hourani, Albert Habib. A History of the Arab Peoples. London: Faber and Faber, 2002. ISBN 0-446-39392-4
- Les grandes dates de l'Islam, sous la direction de Robert Mantran, Editions Larousse, Paris 1990.
- Nineteenth-Century Egyptian Population. McCarthy, J. 1976. Middle Eastern Studies 12.3: 1–39
- Nonviolent Social Movements: A Geographical Perspective. Zunes, Stephen. Blackwell Publishing, 1999.
- Population active et structures économiques de l'Egypte (bài viết),
Mahmoud Seklani, Population (tập san), 17e Année, No. 3 (Jul. - Sep.,
1962), pp. 465-490, Institut National D'Etudes Démographiques, Paris.
- Question du Canal de Suez, Ferdinand de Lesseps, Henri Plon éditeur, Paris 1860.
- Quid 1990 - Dominique et Michèle Frémy, Editions Robert Laffont et Société des Encyclopédies Quid, 1989.
- Souvenirs de quarante ans, dédiés à mes enfants, par Ferdinand de Lesseps, Paris, Nouvelle Revue 1887.
- "The era of Muhammad 'Ali Pasha, 1805-1848" by Fahmy, Khaled in The Cambridge History of Egypt: Modern Egypt, from 1517 to the end of the twentieth century. M.W. Daly, ed. Pp. 139-179, Vol. 2. Cambridge: Cambridge University Press 1998. ISBN 0-521-47211-3
- The History of Modern Egypt: From Muhammad Ali to Mubarak.
Vatikiotis, P.J. 1991. Baltimore: The Johns Hopkins University Press. ISBN 0-8018-4215-8
- The Middle East in the World Economy, 1800-1914, by Owen, Roger. I.B.Tauris, 1993. ISBN 1850436584, 9781850436584.
- The Population of Egypt in the Nineteenth Century. Panzac, D. 1987. Asian and African Studies 21: 11–32.
Liên kết ngoài
+++++++++++++++++++++++++++++++++
1.4 Nghệ thuật hội họa và ướp xác Ai Cập cổ
Hội họa
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hội hoạ Ai Cập cổ đại
chủ yếu là bích hoạ, được vẽ bằng các màu như: Lam, đỏ, cam, vàng,
trăng tạo cảm giác rất rực rỡ khi thương thúc tác phảm.đề tài khá phong
phú song đều phục vụ cho tôn giáo của người Ai Cập cổ; cách tạo hình
giống như phù điêu nhưng trau chuốt hơn tranh Ai Cập cổ chứa đựng các sự
tích liên quan đến những vị thần và người sáng lập ra thế giới bằng
những đường nét đơn giản, khúc chiết, màu sắc hài hoà. Nhiều bức đến nay
hầu như vẫn còn nguyên vẹn sống mãi với thời gian.
Xác ướp
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Xác ướp là thi thể một người chết được bảo quản một cách có chủ định nhằm giữ cho thi thể không bị tan rữa nhờ các
chất thơm, chất liệu gỗ
quan tài, môi trường yếm khí và thời gian.
Các kiểu xác ướp
Các xác ướp được bảo quản theo “nghi thức” có chủ định
Các xác ướp nổi tiếng nhất là những xác được
ướp một cách có chủ định với mục đích bảo quản cụ thể, đặc biệt là những xác ướp
Ai Cập cổ đại. Văn hóa Ai Cập tin rằng thân thể là nơi trú ngụ cho linh hồn, người Ai Cập gọi là:
Ka và đó là phần chủ chốt của con người trong
kiếp sau. Tại Ai Cập, xác được ướp theo cách mổ bụng, bỏ đi nhiều phần nội tạng. Sau đó thân thể được bao phủ bằng
natron, để tăng tốc quá trình
khử nước và ngăn chặn phân huỷ.
Tại
Trung Quốc, các thân xác được bọc trong quan tài bằng
cây bách và những loại thảo mộc có dược tính khác.
Các xác ướp được bảo quản tự nhiên
Các xác ướp được hình thành như là kết quả của một quá trình trong điều kiện môi trường tự nhiên, như rất lạnh (
người băng Ötzi), axít (
người Tollund)
hay được làm khô tự nhiên đã được tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới.
Một số xác được bảo quản trong tình trạng rất tốt trong điều kiện tự
nhiên và có niên đại từ thời
Inca ở
Peru.
Từ nguyên
Từ
mummy trong
tiếng Anh có nguồn gốc từ
tiếng Latin thời Trung Cổ là
mumia, một từ mượn trong
tiếng Ả Rập là từ
mūmiyyah (مومية), có nghĩa "
bitum". (Bởi vì
da của những xác ướp không được bọc bị đen đi nên trước kia mọi người cho rằng người Ai Cập cổ đã dùng bitum trong quá trình
ướp xác.
Nhựa đường và
hắc ín là những dạng khác của bitum.) Từ này trong tiếng Ả Rập cũng được mượn từ trong
tiếng Ba Tư là từ
mūmiya, có nghĩa "bitum"; nó lại liên quan tới một từ khác trong tiếng Ba Tư,
mūm,
có nghĩa "sáp". (Các nhà sử học Ai Cập cổ đại ghi nhận rằng người Ba Tư
thỉnh thoảng ướp xác các vị vua và các nhà quý tộc trong sáp ong, dù
hành động này chưa bao giờ được ghi chép tại Ai Cập.)
Các xác ướp ở Ai Cập cổ đại
Ở Ai Cập, người chết ban đầu không được ướp xác theo quy trình từng
được sử dụng trong triều đại đầu tiên. Lúc đầu người chết được bỏ trong
những giỏ
sậy
và vùi xuống cát. Cát khô nóng làm cho xác người khô đi nhanh chóng,
ngăn chặn sự phân huỷ. Sau này, họ bắt đầu xây dựng những hầm mộ bằng
gỗ, và những quy trình ướp xác kỹ lưỡng hơn bắt đầu được phát triển để
đảm bảo rằng xác chết sẽ không bị phân huỷ ở kiếp sau. Những người được
ướp xác được đặt ở nơi yên nghỉ cuối cùng theo một tập hợp những
nghi thức và tục lệ.
Những cá nhân đầu tiên “được ướp xác” có niên đại từ khoảng năm
3300 TCN, dù đó không phải là những xác ướp nổi tiếng như,
Rameses II hay
Seti I. Xác ướp hiện vẫn chưa chính thức được biết là của ai này đang được trưng bày trong
Viện bảo tàng Anh
và đã được đặt tên hiệu là 'Ginger' bởi vì xác có mái tóc đỏ. Ginger
được chôn trong cát nóng xa mạc, có lẽ được chồng đá lên trên để ngăn
thân thể bị chó rừng xâm hại. Những điều kiện thời tiết khô và nóng, đã
sấy khô và bảo quản xác. Ginger được chôn với một số chậu gốm, có lẽ
trước kia để đựng thức ăn và nước uống để linh hồn sử dụng trên đường đi
đến thế giới bên kia. Không có những ghi chép nào về tôn giáo ở thời
đại đó, nhưng có lẽ nó cũng giống với tôn giáo về sau này ở một số điểm.
Các điều kiện thời tiết xa mạc là một sự thực về cuộc sống và “cái
chết”, vì thế, trong bất kỳ trường hợp nào, một số sự bảo quản thân thể
có thể là tự nhiên.
Từ
triều đại Ai Cập đầu tiên
về sau này, những người cổ đại Ai Cập hiển nhiên tìm cách giữ gìn thể
xác của người chết, nhờ thế linh hồn của họ có một thân thể hướng dẫn họ
tới kiếp sau.
Người Ai Cập cũng mở rộng cả việc ướp xác cho những con vật. Những con vật linh thiêng dành cho
thờ cúng như
cò quăm,
diều hâu,
cá sấu và
mèo được ướp xác với số lượng lên tới hàng nghìn.
Hoàn cảnh lịch sử của các xác ướp Ai Cập cổ đại
Thời tiết khô ở Ai Cập luôn góp phần giúp đỡ vào việc bảo quản các
xác ướp, vì đây là một trong những vùng khô nhất thế giới. Ở thời trước
khi xuất hiện các vương triều, nhiều thân thể đã trở thành các “xác ướp
tự nhiên”. Những thân thể bị chôn xuống vẫn có thể được tìm thấy sau
nhiều thế hệ và được bảo quản trong tình trạng tốt. Những xác khô được
bảo quản tốt không phải là thứ được xã hội coi là thẩm mỹ, vì thế họ bắt
đầu thay đổi lại quá trình ướp xác và quấn xác người trong những dải
vải lanh rất chặt. Cùng lúc ấy, họ bắt đầu bỏ đi những phần nội tạng để
đảm bảo rằng xác ướp không bị phân huỷ từ bên trong, và sẽ tiếp tục hiện
diện được trước thượng đế cũng như các thế hệ tương lai. Người Ai Cập
không cho đó là sự khủng khiếp hay sự rùng rợn. Cái chết cũng có nghĩa
đẹp. Các xác ướp tiếp tục được chuẩn bị và quấn lại thành một gói đẹp đẽ
giống như ở thời Thiên chúa giáo.
Các xác ướp Ai Cập với tư cách nghệ thuật cổ đại
Việc nghiên cứu ướp xác người với mục đích giữ gìn xác rất khác biệt
so với việc nghiên cứu ướp xác với mục đích nghệ thuật. Những xác ướp
ban đầu phản ánh kiểu cách của thời các triều đại. Những xác ướp sau này
có thể được phân loại theo tiến trình thay đổi văn hoá khi các nước
khác chinh phục Ai Cập (nghĩa là Nubia, Hy Lạp) và áp đặt một số ảnh
hưởng nghệ thuật. Những xác ướp rất muộn về sau này, ở thời Rôma và
Thiên chúa giáo (tới năm 250) trên thực tế có một bức tranh vẽ lại khuôn
mặt lúc sống trên một vùng phẳng bên trên mặt người chết. Những xác ướp
“có chân dung” đó được coi là những bức chân dung ở trình độ cao nhất
thời Rôma.
- Xem Viện bảo tàng Nghệ thuật Thủ đô (Metropolitan Museum of Art), hay tìm: Triển lãm đặc biệt về "Những khuôn năm thời cổ đại" MMoA năm 2001 (MMoA "Ancient Faces" Special exhibit 2001).
Quá trình ướp xác của người Ai Cập
Những người ướp xác có trách nhiệm bảo quản xác người chết. Không chỉ
làm việc dựa trên sự hiểu biết của họ về giải phẫu người, mà còn phải
thjực hiện các nghi lễ theo từng giai đoạn trong quá trình ướp. Rất đáng
chú ý rằng chính người Ai Cập coi việc ướp xác là linh thiêng và bí mật
vì thế họ không ghi chép lại quá trình thực hiện của mình mà chỉ có
những ghi chép của những người quan sát bên ngoài.
Ngay sau khi một người chết, thân thể họ nhanh chóng được đưa tới cho
những người ướp xác để ngăn chặn sự thối rữa sớm. Một quá trình ướp xác
tiêu biểu tốn 70 ngày trong đó những người thợ lành nghề phải chạy đua
để hoàn thành xây dựng lăng mộ.
Bước đầu tiên trong quá trình ướp xác của người Ai Cập là bỏ tất cả
các cơ quan nội tạng thường có xu hướng thối rữa sớm nhất. Não được lấy
ra bằng cách đập vỡ xương ở cuối mũi bằng một cái đục và nhét một cái
móc đặc biệt vào lỗ mũi đến tận sọ. Sau đó ngoáy cái móc để làm vỡ não.
Não đã lỏng được rót ra ngoài sọ qua đường mũi bằng cách nghiêng sọ sang
từng phía một.
Những người ướp xác cũng bỏ dạ dày, gan, phổi và ruột thông qua một
vết rạch nhỏ bên trái bụng. Theo Herodotus, người rạch bụng sau đó sẽ bị
đuổi ra ngoài, vì họ cho rằng thân thể con người là một vật linh thiêng
vì thế việc gây hại đến nó là tội ác. Trái tim vẫn được đặt chỗ cũ bởi
vì người Ai Cập cho nó là trung tâm của thể xác. Các phần nội tạng bị
lấy ra từ bụng được cất vào một trong cái gọ là
canopic jar (bình kín), làm theo kiểu bốn người con trai của
Horus,
để bảo vệ các nội tạng, và đặt nó vào trong mộ trong thời gian diễn ra
nghi lễ chôn cất. Họ tin rằng người chết cũng cần nội tạng để sống ở thế
giới bên kia. Bởi vì lúc ấy con người vẫn chưa biết đến chức năng của
não, nên nó bị bỏ đi. Ở các triều đại sau này, những cơ quan nội tạng
trong bụng được xử lý, gói lại rồi lại được nhét vào trong xác nhưng các
canopic jar không được sử dụng tới vẫn được đặt vào trong mộ.
Sau đó xác được tắm bằng rượu cọ. Nhờ nồng độ cồn cao của nó, nó sẽ
tiêu diệt đa số vi khuẩn đã bắt đầu sinh sôi trong xác chết ở thời gian
đó.
Sau đó, mọi hơi ẩm phải bị loại trừ khỏi xác bằng cách nhét những túi
lanh đựng natron (một kiểu muối có ở trên bờ Hồ Wadi Natrun) vào trong ổ
bụng thông qua đường rạch. Phần còn lại của xác sau đó được phủ đầy
natron và đặt ở chỗ nóng. Kết quả là xác khô đi, nhưng vẫn giữ được hình
hài. Một miếng kim loại có hình Con mắt của Horus (
wedjat) được đặt lên trên vết rạch ở bụng để gắn nó lại về hình thức.
Cuối cùng, xác được bọc bằng nhiều tấm vải lanh, một số tấm có gắn
bùa chú để giúp người chết trên đường đi sang thế giới bên kia. Sau
nhiều công đoạn bọc, xác được phủ bằng nhựa thông nóng, trước khi lại
bọc tiếp. Lớp nhựa để đảm bảo các lớp lớp lanh sẽ nằm yên vị. Có lẽ nhựa
được pha trộn thêm hương liệu và nhựa thơm.
Để bảo vệ xác chết tốt hơn nữa, những bùa chú được đặt ở những vị trí đặc biệt của xác giữa các lớp bọc. Chúng gồm:
- Ankh
- Scarab
- Djed-Djed pillar
- Pectoral
Những nghi lễ chôn cất của người Ai Cập
Cuối cùng xác ướp sẽ được chôn theo nhiều cách tương xứng với
vị thế xã hội
của người chết. Những cá nhân thuộc tầng lớp thấp chỉ được ướp xác một
cách đơn giản và bỏ vào một hầm mộ sơ sài hay bên rìa của một hầm mộ
lớn. Những người ở tầng lớp trên sẽ được chôn cất rất kỹ lưỡng trong hầm
mộ có trang trí, dù có lẽ không phải là
quan tài đá. Những người ở cấp bậc cao nhất, như các
pharaon,
sẽ được chôn trong quan tài nhiều lớp và quách đá, và thường được trau
chuốt rất tỉ mỉ. Có lẽ lễ nghi chôn cất quan trọng nhất là lễ mở miệng.
Một thầy tu chạm vào miệng xác ướp hay quan tài bằng một que móc, giả bộ
mở miệng xác ướp nhờ thế xác ướp có thể thở và nói chuyện trong cuộc
sống tiếp sau.
Các xác ướp ở những nền văn minh khác
Một số nền văn minh cũng thực hiện nghệ thuật ướp xác.
Xác ướp Trung Quốc
-
Các xác ướp Trung Quốc theo kiểu
Ấn-Âu đã được tìm thấy ở
lưu vực Tarim có niên đại sớm từ năm
1600 TCN
và cho thấy sự tiếp xúc từ rất sớm giữa Đông và Tây. Có ý kiến cho rằng
những xác ướp còn lại đó có thể là tác phẩm của những vị tổ tiên người
Tochari thuộc
hệ ngôn ngữ Ấn-Âu hiện vẫn đang được sử dụng tại Lưu vực Tarim (
Tân Cương ở
Trung Quốc ngày nay) đến tận
thế kỷ thứ 8 (xem
Con đường tơ lụa, phần nói về người Tochari).
Một xác ướp cổ được đặt tên là "người
Yingpan đẹp trai" đã được tìm thấy ở tỉnh
Tân Cương xa xôi phía tây bắc Trung Quốc. Theo Tân Hoa Xã, những nhà khảo cổ từ
Viện khảo cổ Tân Cương
đã tìm thấy xác ướp này khi họ mở một quan tài trong một nghĩa địa có
niên đại từ 1.900 năm. Xác ướp có mái tóc dày màu nâu, mặt và thân teo
lại, da xám và nâu. Râu, lông mày và lông mi có thể thấy rõ ràng và
trang phục của xác ướp vẫn còn nguyên vẹn kể cả màu sắc sáng của chúng.
Người đàn ông này, được cho là đã sống ở thời
Đông Hán (25-220), cao 1.8
mét
(gần sáu feet) và có lẽ đã chết khi 25 tuổi. Quan tài của anh ta có
những hình vẽ màu bên ngoài, được khám phá cùng với 150 mộ cổ có niên
đại thời Đông Hán tại Yingpan gần Lop Nur ở Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân
Cương. Chiếc quan tài này cùng năm cái khác đã được chở đến Urumqi, thủ
phủ vùng và được giữ trong viện, ở tình trạng đóng kín trong nhiều năm.
Xác ướp được cho là rất quan trọng cho việc nghiên cứu những trao đổi
kinh tế và văn hoá giữa Trung Quốc và các nước phương Tây thời trước.
"Người Yingpan đẹp trai" được cho là có thể so sánh được với "người phụ nữ đẹp
Lâu Lan," một xác ướp nữ 3.800 năm tuổi được tìm thấy năm 1980 tại
châu thổ Tiebanhe, khoảng 200 kilômét phía đông Yingpan. Lâu Lan là một vương quốc cổ nằm dọc theo
Con đường tơ lụa Trung Quốc tại
Tân Cương, khoảng 200
kilômét phía đông Yingpan.
Xác của lãnh tụ
Mao Trạch Đông cũng được đem ướp và trưng bày ở
Nhà kỷ niệm Mao Chủ tịch ở
Bắc Kinh.
Xác ướp Việt Nam
Tại
Việt Nam có hai xác tự ướp tại
chùa Đậu của hai
thiền sư Vũ Khắc Minh và
Vũ Khắc Trường từ
thế kỷ 17
được tạo thành bằng cách bó sơn ta rồi quang dầu ra ngoài chính thi hài
các nhà sư. Ngoài xác ướp 2 vị thiền sư trên người ta còn phát hiện
nhiều xác ướp còn khá nguyên vẹn như: xác ướp vua Lê Dụ Tông ở Thanh
Hoá, xác ướp Xuân Thới Thượng ở Thành phố Hồ Chí Minh, xác ướp phát hiên
tại vườn đào Nhật Tân ở Hà Nội...
[cần dẫn nguồn]
Gần đây hơn là Chủ tịch
Hồ Chí Minh được các chuyên gia
Liên Xô ướp theo phương pháp hiện đại và được bảo quản lạnh tại
lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở
Hà Nội. Đây là xác ướp thứ ba của các lãnh tụ cộng sản, sau
Lenin (1924), và
Stalin (1953).
Các xác ướp tự nhiên
Xác ướp một cách tự nhiên tương đối hiếm, vì nó yêu cầu phải có một
số điều kiện đặc biệt, tuy nhiên những xác ướp này lại là một trong
những xác ướp cổ nhất từng biết. Xác ướp cổ đại nổi tiếng nhất là
người băng Ötzi, bị đóng băng trong một
dòng sông băng ở
Ötztal Alps
khoảng năm 3300 TCN và được tìm thấy năm 1991. Một xác ướp thậm chí còn
cổ hơn nhưng ở tình trạng bảo quản kém hơn được tìm thấy tại
hang Spirit,
Nevada năm
1940 và
có niên đại carbon khoảng năm 7400 TCN.
Anh Quốc,
Ireland,
Đức,
Hà Lan và
Đan Mạch đều tìm thấy một số
xác đầm lầy, xác ướp của những người bị rơi vào
những đầm lầy rêu
hiển nhiên là bị sát hại hay hiến tế theo nghi lễ. Trong những trường
hợp đó, tính axít của nước, nhiệt độ lạnh và môi trường yếm khí đã làm
da xác chết xạm lại và giữ gìn bộ xương. Các xác ướp đó được bảo vệ tốt,
da và các phần nội tạng cũng như xương vẫn còn nguyên; thậm chí có thể
xác định được cả bữa ăn cuối cùng của họ thông qua những thứ tìm thấy
trong dạ dày.
Năm 1972, tám xác ướp được bảo quản rất tốt được tìm thấy trong một khu định cư đã bị bỏ hoang của người
Inuit được gọi là
Qilakitsoq, ở
Greenland.
"Các xác ướp Greenland" gồm một đứa trẻ sáu tháng tuổi, một đứa trẻ bốn
tuổi, và sáu phụ nữ ở những độ tuổi khác nhau, và đã chết khoảng 500
năm trước. Xác của họ được ướp một cách tự nhiên ở nhiệt độ dưới không
và gió khô trong hang nơi họ được tìm ra.
Một số những xác ướp được bảo quản tốt nhất có niên đại từ giai đoạn
Inca ở
Peru khoảng 500 năm trước, nơi trẻ em được đem ra hiến tế trong các nghi lễ và được đặt trên đỉnh các ngọn núi ở dãy
Andes. Khí hậu lạnh và khô đã bảo quản các xác chết còn nguyên vẹn trong hàng thế kỷ.
Xác ướp ở những giai đoạn gần đây
Các xác ướp đã trở thành đối tượng được chú ý nghiên cứu nhiều ở
phương Tây từ khi chúng được các nhà khảo cổ học tìm ra với số lượng
lớn. Những nhà quý tộc thế kỷ 19 thường thỏa mãn nhu cầu tiêu khiển của
mình bằng cách mua các xác ướp, bỏ lớp bọc ngoài và đem ra trưng bày.
Việc đem ra trưng bày đã làm hủy hoại nhiều xác ướp vì chúng rất dễ bị
phân hủy khi tiếp xúc với không khí.
Trong
thập niên 1830 Jeremy Bentham, người sáng lập
thuyết vị lợi,
đã để lại những hướng dẫn trong di chúc để tạo ra một kiểu xác ướp hiện
đại. Ông yêu cầu rằng thể xác mình phải được đem ra trưng bày nhằm minh
họa làm cách nào sự "kinh hãi đối với giải phẫu bắt nguồn từ sự ngu
dốt"; một khi đã được đem ra trưng bày và thuyết trình, ông yêu cầu rằng
các phần thân thể của ông phải được giữ lại, gồm cả bộ xương (trừ xương
sọ, vì ông đã có kế hoạch khác cho nó), thân thể của ông phải được mặc
quần áo ông thường mặc và "ngồi trên một cái ghế tôi thường ngồi với
dáng điệu lúc còn sống tôi thường ngồi khi suy nghĩ." Thân thể của ông,
được lắp một cái đầu sáp vì cái đầu được chuẩn bị riêng theo yêu cầu của
ông, hiện được trưng bày tại
Đại học London.
Các xác ướp Ai Cập được các bảo tàng khắp thế giới săn lùng trong thế
kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 và chiếm đa số trong những xác ướp được trưng
bày hiện nay. Những ví dụ nổi tiếng nhất là tại
Viện bảo tàng Ai Cập ở
Cairo, tại
Viện bảo tàng Ägyptisches ở
Berlin và tại
Viện bảo tàng Anh ở
London. Thành phố
Luxor Ai Cập cũng là nơi có
Viện bảo tàng ướp xác. Những phần xác ướp còn lại được cho rằng của
Ramesses I được đưa vào "Viện bảo tàng liều mạng" (
Daredevil Museum) gần
Thác Niagara ở
Hoa Kỳ–biên giới
Canada; những ghi chép cho thấy rằng xác ướp đó đã được bán cho một người Canada năm
1860 và được trưng bày cùng với những vật khác như một con bê hai đầu trong gần 140 năm, cho tới khi một viện bảo tàng ở
Atlanta, Georgia,
vốn đã thu thập được xác ướp cùng với một số đồ vật khác, xác định rằng
đây là xác ướp của một nhân vật hoàng gia và trả lại nó cho
Hội đồng tối cao cổ vật Ai Cập. Hiện xác ướp này được trưng bày tại
Viện bảo tàng Luxor.
Xác ướp trong Viện bảo tàng Anh
Các xác ướp cũng được cho là có các tính năng y khoa, và đã được bán như
dược liệu
theo nhiều hình thức. Ở hình bên trái, Emad Mousa, xác ướp Ai Cập của
các vị thánh bảo hộ sinh sản rất nổi tiếng trong lịch sử văn hóa Ai Cập.
Tuy nhiên, chúng không được sử dụng làm
nhiên liệu cho
đầu máy hơi nước, ý tưởng xuất phát từ một trò đùa của
Mark Twain. Dù vậy, trong
Thế chiến thứ nhất, các dải lanh bọc xác ướp được đem ra chế tạo thành
giấy.
Khoa học cũng đã có chú ý tới các xác ướp. Tiến sĩ
Bob Brier, một
nhà Ai Cập học, là nhà khoa học hiện đại đầu tiên tái tạo thành công một xác ướp theo phương pháp Ai Cập. Các xác ướp đã được sử dụng trong
y khoa, để xác định mức phóng xạ mà máy chụp cắt lớp (
CAT scan)
có thể hoạt động mà không gây hại quá nhiều tới người sống. Trên thực
tế, các xác ướp có thể được nghiên cứu mà không cần phải dỡ bỏ lớp bọc
ngoài bằng cách sử dụng máy
chụp cắt lớp và
tia-X để tạo ra một bức ảnh về những gì có bên trong.
Các xác ướp rất hữu ích cho các
nhà nghiên cứu sinh vật học và các
nhà khảo cổ học,
vì chúng cung cấp nhiều thông tin giá trị về sức khỏe và tuổi thọ của
những người đó. Đặc biệt, các xác ướp đã chứng minh rằng thậm chí từ
5.000 năm trước, con người đã giống hệt với người ngày nay về giải phẫu
học. Điều này có một ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu
tiến trình phát triển loài người.
Các nhà khoa học quan tâm tới nhân bản vô tính (
cloning)
DNA của các xác ướp gần đây đã thông báo về những phát hiện ra DNA có thể nhân bản được trong một
xác ướp Ai Cập có niên đại từ khoảng năm 400 TCN. Dù phân tích tóc của các xác ướp Ai Cập cổ đại từ thời cuối Middle Kingdom
đã cho thấy bằng chứng của một chế độ ăn kiêng ổn định
[http://www.ncbi.nlm.nih.gov/entrez/query.fcgi?cmd=Retrieve&db=pubmed&dopt=Abstract&list_uids=10091248&itool=iconabstr,
Các xác ướp
Ai Cập cổ đại từ khoảng năm
3200 TCN cho thấy những dấu hiệu của
bệnh thiếu máu nghiêm trọng và
rối loạn chức năng máu (
hemolitic dosorder)
[1].
Các nghệ sĩ cũng sử dụng các xác ướp vào cuối
thập niên 1800, làm một kiểu sơn. Màu sơn hơi nâu được gọi là "Caput Mortum",
tiếng Latin của từ "Đầu người chết", được chế tạo từ những lớp bọc xác ướp.
Năm 1975, một tổ chức
bí truyền với cái tên
Summum
đã đưa ra "ướp xác hiện đại," một kiểu ướp xác mà Summum cho rằng sử
dụng các kỹ thuật hiện đại cùng với những cách thức cổ. Summum đã được
trình chiếu trên
National Geographic và
British Broadcasting Corporation và thậm chí còn được đề cập tới trong cuốn sách,
Nghiên cứu khoa học về các xác ướp
của Arthur C. Aufderheide. Summum đã ướp xác nhiều con vật như chim,
mèo và chó. Con người đã được ướp xác từ rất sớm khi họ còn đang phát
triển quy trình của mình và nhiều người đã dàn xếp thoả thuận cá nhân
“trước khi cần thiết”.
Tháng 3 năm 2006, xác của
thầy tu Hy Lạp chính thống Vissarion Korkoliacos
được tìm thấy còn nguyên vẹn trong hầm mộ của ông, sau mười lăm năm
chôn cất. Sự kiện này đã gây tranh cãi giữa những người tin vào một
phép lạ và những người cho rằng đó chỉ đơn thuần là một sự
ướp xác tự nhiên.
Tuy nhiên, nghiên cứu khoa học hiện nay vẫn chưa thể đưa ra kết luận và
vì thế bất kỳ ý kiến tranh luận nào về việc này cũng chưa thể được coi
là chân lý.
Các xác ướp trong tiểu thuyết
Trong
thế kỷ 20, các
phim kinh dị và các phương tiện truyền thông đại chúng khác truyền bá khái niệm về một
lời nguyền gắn liền với các xác ướp. Những bộ phim thể hiện niềm tin đó gồm bộ phim năm 1932 tên
The Mummy (Xác ướp) với diễn viên chính
Boris Karloff,
cũng như hai phiên bản khác tiếp sau, một năm 1959 và một phim khác năm
1999. Sự tin tưởng vào những lời nguyền của xác ướp nảy sinh một phần
từ lời nguyền được cho là có ở bên trong lăng mộ
Tutankhamun.
Các xác ướp nổi tiếng
Từ Ai Cập
Khác
Xem thêm
Tham khảo
Sách
- barbra sex, Elizabeth Wayland. 1999. The Mummies of Ürümchi. 1999. London. Pan Books. Also: W. W. Norton & Company. ISBN 0-393-04521-8.
- Budge, E.A.Wallis. 1925. The Mummy, A Handbook of Egyptian Funerary Archaeology. Dover Publ. Inc., New York, Dover Ed. 1989, (512 pgs.) ISBN 0-486-25928-5.
- Davis-Kimball, Jeannine, with Behan, Mona. 2002. Warrior Women: An
Archaeologist’s Search for History’s Hidden Heroines. Warner Books, New
York. First Trade Printing, 2003. ISBN 0-446-67983-6.
- Mallory, J. P. and Mair, Victor H. 2000. The Tarim Mummies: Ancient China and the Mystery of the Earliest Peoples from the West. Thames & Hudson. London. 2000. ISBN 0-500-05101-1.
- Pringle, Heather. 2001. Mummy Congress: Science, Obssession, and the Everlasting Dead. Penguin Books. ISBN 0-14-028669-1.
- Taylor, Jhomo H. 2004. Mummy: the inside story. The British Museum Press. ISBN 0-7141-1962-8.
Trên mạng
Liên kết ngoài
1.5 XEM PHIM TÀI LIỆU
10_phathienve_Ai_Cap_co_dai_phan_1
10_phathienve_ai_cap_co_dai_phan_2
+++++++++++++++++++++++++++++++++
1.6 Các phát hiện khảo cổ học .
4 phát hiện thú vị về thế giới Ai Cập cổ đại
(Dân trí) - Năm 2005, trong khi khai quật một
ngôi mộ gần thành phố Thebes, Hy Lạp, các nhà khoa học tìm thấy một ngón
chân giả rất to gắn vào chân một xác ướp. Cho đến nay nó vẫn được coi
là bộ phận cơ thể giả đầu tiên trên thế giới.
Việc phát hiện ra những bình rượu trong ngôi mộ của vua Tutankhamen đã
thúc giục các nhà khoa học Tây Ban Nha tìm hiểu sở thích uống rượu của vị
vua nhỏ tuổi. Qua phân tích những vết cặn rượu còn lại trong bình, người
ta phát hiện chúng có chứa syringic acid, điều này chứng tỏ rượu được làm từ nho đỏ.
Năm 2005, trong khi khai quật một ngôi mộ gần thành phố Thebes,
Hy Lạp, các nhà khoa học tìm thấy một ngón chân giả rất to gắn
vào chân một xác ướp. Cho đến nay người ta vẫn coi đó là bộ phận
cơ thể giả đầu tiên trên thế giới.
Một người Ai Cập đã tình nguyện hiến tặng xác ướp một em
bé 6 tuổi cho Trung tâm khoa học St. Louis vào năm 1985.
Cho đến nay, nguồn gốc và cái chết của em vẫn là một điều
bí ẩn.
Tháng 6/2007, các nhà chức trách Cairo công bố xác ướp mà
họ mới phát hiện tại "Thung lũng của các vị vua" chính là của
nữ hoàng Hatshpsut - vị pharaông nữ trị vì vào thế kỉ thứ 15.
Các nhà khoa học đã dùng phương pháp phân tích ADN để xác
định danh tính của xác ướp thuộc hoàng gia Ai Cập đầu tiên kể
từ vua Tut.
Tượng người lùn được dựng để tưởng nhớ Seneb,
một người có chiều cao khiêm tốn phục vụ vua Pepi
II. Một nghiên cứu được xuất bản tháng 12/2005 tiết
lộ rằng những người lùn, như Seneb, được kính trọng
và có vị trí cao trong xã hội Ai Cập thời cổ đại.
Năm 2006, các nhà khảo cổ phát hiện một xưởng đóng
tàu có chứa những con tàu lâu đời nhất thế giới trong
một cuộc khai quật gần biển Đỏ. Những cổ vật như tấm
ván gỗ và thùng đựng hàng có tuổi trên 4.000 năm.
Nhiều vệ tinh đã xác định được vị trí của một thành phố
Ai Cập 1.600 tuổi. Những bức ảnh này tình cờ được chụp trong một dự án lập bản đồ các vị trí khảo cổ của
Ai Cập.
Khu vực Biển cát Lớn (Great Sand Sea) ở Đông Sahara là một
một vùng đất sa mạc rộng 72.000 km2. Nhưng một nghiên cứu
khí hậu mới đây lại khẳng định rằng hơn 10 nghìn năm trước,
nơi đây thường có mưa, là một vùng đất rất trù phú và phì nhiêu.
Việc các nhà khảo cổ tìm thấy nhiều bức tranh nghệ thuật miêu tả các
hoạt động bơi lội trong một hang động là bằng chứng cho thấy người Ai
Cập cổ đại sống tại phía tây nam Ai Cập từng rất thích bơi lội trong các
bể bơi hơn 8000 năm trước.
Cách đây 4 năm, các nhà khảo cổ tìm thấy 3 chiếc
quan tài trong một ngôi mộ Ai Cập 2.500 tuổi. Bên
trong một chiếc quan tài có chứa một xác ướp gần
như còn nguyên vẹn, ngay lập tức người ta đặt cho
nó cái tên “xác ướp hoàn hảo nhất”.
Vào tháng 4/2007, các nhà chức trách Ai Cập
tuyên bố nhiều cổ vật bị đem ra khỏi nước này
bất hợp pháp và đã yêu cầu nhiều bảo tàng trên
thế giới trả lại, trong số những cổ vật trở về Ai
Cập có hòn đá Rosetta và tượng nửa người của
nữ hoàng Nefertiti.
Các nhà khoa học đã phát hiện ra bằng chứng cho
thấy một số khối đá dùng để xây dựng kim tự
tháp Giza được đúc chứ không phải được cắt và
đẽo như người ta vẫn nghĩ.
Năm 2005, các nhà khoa học đã dựng lại thành công khuôn mặt đầu
tiên của vua Tut bằng công nghệ scan CT. Điều bất ngờ là khuôn mặt
được dựng lại giống các bức chân dung vua Tut vẽ thời cổ đại một cách đáng
kinh ngạc.
Đàm Loan
Theo Religion
Nguồn :
http://dantri.com.vn/c132/s132-319070/14-phat-hien-thu-vi-ve-the-gioi-ai-cap-co-dai.htm
+++++++++++++++++++++++++++++++++
Tiết lộ khuôn mặt nữ thầy tế Ai Cập 3000 năm tuổi
(Dân trí) - Lần đầu tiên thế giới được chiêm
ngưỡng khuôn mặt của Meresamun, một nữ thầy tế từng hát trong các ngôi
đền của Ai Cập cổ đại hàng trăm năm trước khi Chúa giáng thế.
Bà nằm đó yên nghỉ suốt 3.000 năm qua, bên trong một quách quan tài bít kín trong hành trình đi về cõi vĩnh hằng.
Bằng máy quét, các nhà khoa học đã nhìn được bên trong quan tài và
nhìn thấu các lớp vải lanh quấn quanh xác ướp của bà. Những hình ảnh
không gian 3 chiều cho thấy bộ xương, khuôn mặt của Meresamun và có 2
viên đá được đặt trong hốc mắt.
Các nhà khoa học đưa quan tài nữ thầy tế vào máy scan.
Theo các nhà khoa học, Meresamun làm việc và sống trong một ngôi đền tại thành phố Thebes
vào khoảng năm 800 trước Công nguyên. Tên của bà, được khắc trên quan
tài, có nghĩa là: “Bà sống vì Amun” (Amun là một vị thần Ai Cập). Theo
bản khắc đó, thì Meresamun là một nữ thầy tế kiêm nghệ sĩ, giữ vai trò
là một “ca sĩ trong ngôi đền thờ Amun”. Meresamun cao khoảng 1m65 và qua
đời ở cuối tuổi 20 hoặc đầu 30.


Lần scan đầu tiên, các nhà khoa học chỉ nhìn thấy mặt ngoài của quan tài
và đến lần scan sâu thứ 2 họ mới có thể quan sát những chi tiết trên cơ
thể nữ thầy tế.
Nguyên nhân cái chết của Meresamun vẫn còn là một bài toán khó giải bởi
bà qua đời trong tình trạng sức khỏe rất tốt. Phân tích mẫu xương cho
thấy bà có chế độ dinh dưỡng và lối sống khỏe mạnh. Dù không bị sâu răng
nhưng răng Meresamun đã bị mòn do thường xuyên ăn bánh mì có sạn - thời
đó bột mì được nghiền bằng cối đá.

Hình ảnh không gian 3 chiều cho thấy có
2 viên đá được đặt trong hốc mắt.
Chiếc quan tài này được James Henry Breasted, người sáng lập ra Viện phương Đông (Anh), mua ở Ai Cập hồi năm 1920.
Đàm Loan
Theo
Religion
Nguồn : http://dantri.com.vn/c132/s132-318710/tiet-lo-khuon-mat-nu-thay-te-ai-cap-3000-nam-tuoi.htm
+++++++++++++++++++++++++++++++++
Bí ẩn các nền văn minh cổ đại (kỳ 1)
03.05.2012 15:01
Nền văn minh Ai Cập cổ đại còn ẩn chứa
nhiều bí ẩn đáng sợ khiến người đời sau chưa tìm ra lời giải đáp.
Những câu
chuyện về xác ướp Ai Cập và những cuộc trả thù của những vị vua trong
lăng mộ cổ đã và vẫn luôn là đề tài khai thác bất tận cho văn chương và
phim ảnh. Và sự thật là đến ngày nay, các nhà khoa học vẫn phải đau đầu
về những hiện tượng bí ẩn được cho là “Lời nguyền của Pharaoh”.
Pharaoh
Tutankhamun, ông vua thiếu niên, là người đã trị vì triều đại Ai Cập
trong quãng thời gian ngắn ngủi từ 1336 – 1327 trước Công nguyên. Năm 18
tuổi, Tutankhamun đột ngột qua đời một cách bí ẩn và không ai biết lý
do vì sao vị vua trẻ lại băng hà. Có giả thuyết còn cho rằng Tutankhamun
bị ám sát và sẽ chìm vào giấc ngủ thiên thu nếu không có người “đánh
thức” ông dậy vào năm 1923.
Lăng
mộ của Tutankhamun được phát hiện vào năm 1923 bởi Howard Carter, một
nhà Ai Cập học người Anh. Theo đuổi lý thuyết rằng lăng mộ này nằm ẩn
mình đâu đó ở Thung lũng của các nhà vua, Carter đã được Carnarvon tài
trợ tài chính để thực hiện dự án này. Sau nhiều năm ròng rã đào bới, hầm
mộ của Tutankhamun đã được khai quật, và là một công bố chấn động dư
luận thời bấy giờ.
Howard Carter - người khởi xướng cuộc khai quật
Truyền
thuyết kể rằng hầm mộ bị khai quật là động thái đánh thức giấc ngủ dài
của Pharaoh và khởi động một loạt lời nguyền chết chóc giáng lên những
người liên quan. Vào đúng ngày tìm thấy lăng mộ, Howard trở về nhà và
nhận ra rằng con chim hoàng yến yêu quý của mình đã bị rắn hổ mang ăn
thịt. Con rắn hổ mang được coi là biểu tượng của người canh giữ lăng
mộ.
Lăng
mộ Tutankhamun ẩn chứa một bộ sưu tập lớn những châu báu của nhà vua,
và cả xác ướp của vị vua trẻ. Người ta đồn đại nhau rằng những người thợ
đào hầm mộ đã nhìn thấy những chữ tượng hình biểu tượng của xác chết
lởn vởn quanh thi thể của Tutankhamen, báo hiệu cái chết của những kẻ
xâm nhập.
Vị vua trẻ Tutankhamun
“Họ,
những kẻ bước chân vào lăng mộ thần thánh sẽ được gặp đôi cánh của tử
thần”. Howard Carter sau này đã phải rất khó khăn mới có thể giữ cho
những người thợ trấn tĩnh.
“Lời
nguyền Pharaoh” bắt đầu phát động đầu tiên đối với Carnavon – “mạnh
thường quân” của chiến dịch tìm mộ. Ông bị chết vì một vết muỗi cắn lây
truyền bệnh. Và đây mới chỉ là sự khởi đầu, rất nhiều người đã chết sau
cuộc đào mộ thành công đó. Hai ngày sau khi Carnavon qua đời, xác ướp
Tutankhamun được kiểm tra và người ta phát hiện một vết đỏ ở vị trí
tương tự vết muỗi cắn của Carnavon trên khuôn mặt vị vua trẻ.
Những dòng chữ tượng hình trên mộ
Một
thời gian ngắn sau đó, nhà khảo cổ Arthur Mace cũng qua đời vì hôn mê
sâu không rõ nguyên nhân. Và một chuỗi những cái chết bao trùm lên cả dự
án. George Gould, bạn của Carnavon nhìn vào ngôi mộ, và chỉ hôm sau ông
lên cơn sốt cao rồi qua đời. Bác sĩ của George cũng chết không lâu sau
đó.
"Xác ướp Ai Cập" và những lời nguyền đáng sợ là nguồn cảm hứng bất tận của phim ảnh
Lời
nguyền Tutankhamun đến nay vẫn còn khiến bao nhà khảo cổ học khiếp sợ.
Dù nhiều nhà khoa học cho rằng chuỗi cái chết theo sau sự kiện mở hầm mộ
là do những người tham gia đã nhiễm một loại vi khuẩn lâu năm trong môi
trường ẩm ướt của hầm mộ này; những bí ẩn của một nền văn minh cổ đại
vẫn nguyên vẹn là một điều khiến chúng ta và các thế hệ sau này phải
trăn trở suy ngẫm: Có hay không sự trừng phạt của một đấng tối cao lên
những kẻ xâm phạm thánh địa?
Nguyễn Hiền Trang (TH)
Nguồn :
http://xzone.vn/Web/77/482/77204/Bi-an-cac-nen-van-minh-co-dai-ky-1.html
Bí ẩn các nền văn minh cổ đại (kỳ 2)
04.05.2012 11:25
Nhiều giả thuyết cho rằng kim tự tháp Giza cổ xưa không phải do người Ai Cập xây dựng.
Theo
những nghiên cứu thông thường từ trước tới nay, 3 kim tự tháp trên cao
nguyên Giza, Ai Cập được cho là lăng mộ của ba vị vua triều đại thứ 4
trước Công nguyên, nghĩa là khoảng 4500 năm trước và là kỳ quan lâu đời
nhất trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại. Cả 3 kim tự tháp đều được biết
đến với kiến trúc và kết cấu vào bậc cao nhất trong lịch sử loài
người.
Kim
tự tháp Lớn cao 146,7m với diện tích 53 000 mét vuông, đủ để chứa các
Thánh đường lớn Châu âu như St Pauls và Westminster Abbey. Truyền thuyế
kể rằng bề mặt của kim tự tháp ban đầu là lớp đá đen, có thể là mã não,
sau đó là đá vôi mịn có độ bóng cao.
Không
gian bên trong kim tự tháp được biết đến là lối xuống, lối lên, gian
phòng lớn, 2 phòng chính là “phòng vua” và “phòng hoàng hậu” và rất
nhiều hang hốc bí ẩn.
Vấn
đề đặt ra là mặc dù được cho là lăng mộ của hoàng đế Khufu, không có
một dấu tích nào về Khufu còn lại ở đây. Không có thi hài, xác ướp, vật
liệu ướp hay bất cứ vật phẩm nào khác. Trên các kim tự tháp ở cao nguyên
Giza, không có bất cứ một cái tên của vị vua nào được khắc ghi. Điều
này đặt ra câu hỏi cho rất nhiều người: Liệu có thực sự các vị vua triều
đại thứ 4 ở Ai Cập đã xây dựng kim tự tháp Giza?
Trên
thực tế 3 kim tự tháp nằm trên cao nguyên Giza là minh chứng của một kỹ
thuật điêu luyện, và khả năng tính toán cũng như xây dựng phi thường,
là một bước nhảy vọt đến mức phi lý so với triều đại thứ 3. Bên cạnh đó,
các kim tự tháp ở Giza cũng khác biệt khác nhiều so với các kim tự tháp
khác ở Ai Cập.
Điểm
khác biệt đầu tiên là chỉ có kim tự tháp Giza có phòng bí mật ở trên
cao trong khi các kim tự tháp khác chỉ có phòng ngầm dưới đất hoặc gần
móng. Đặc biệt, chỉ có kim tự tháp nhỏ phía trước có lưu giữ khi chép
của Pharaoh Khufu rằng ông đã xây dựng chúng tuy nhiên đây lại là kim tự
tháp hư hại nặng nhất so với những cái còn lại, có cấu trúc tinh vi hơn
nhiều.
Liệu Khufu có phải người ra lệnh xây dựng các kim tự tháp trên cao nguyên Giza?
Chỉ
có kim tự tháp Giza mới được định hướng chính xác theo la bàn và thể
hiện những kiến thức khoa học sâu rộng về phép đo trái đất, điều mà
chúng ta không thể thấy được ở các kim tự tháp khác.
Tổ
hợp kim tự tháp Giza được thiết kế và xây dựng hoàn toàn khác biệt.
Chúng hoàn toàn không có hệ thống khung bên trong mà chính những khối đá
được đo đạc chính xác đã tạo độ ổn định và bền vững cho kim tự tháp.
Các kim tự tháp này cũng không có những biểu tượng tôn giáo hay chữ
tượng hình bên trong. Với công nghệ và kỹ thuật xuất sắc, đây là kim tự
tháp bền vững nhất với thời gian ở Ai Cập.
Các
phiến đá của kim tự tháp được ghép nối với nhau hoàn hảo tới mức sợi
tóc cũng khó lòng lọt qua. Lớp trầm tích dày tới 4,3m quanh nền kim tự
tháp chứa nhiều vỏ sò hóa thạch có niên đại tới gần 11.600 năm tuổi. Vậy
thì khả năng rất cao kim tự tháp Giza được xây dựng từ cách chúng ta
tới 12000 năm, chứ không phải 4000 năm vào thời đại các Pharaoh.
Có
hay không một thế lực siêu phàm với trí tuệ vượt bậc đã “nhúng tay” vào
xây dựng những kim tự tháp sừng sững trên cao nguyên Giza? Đây mãi mãi
là bí ẩn không lời giải với những nhà nghiên cứu và toàn thể nhân loại.
Nguyễn Hiền Trang (TH)
Nguồn : http://xzone.vn/Web/77/482/77268/Bi-an-cac-nen-van-minh-co-dai-ky-2.html
Bí ẩn các nền văn minh cổ đại (kỳ 3)
07.05.2012 09:34
Nữ hoàng Nefertiti không chỉ nổi tiếng
với vẻ đẹp mê hồn mà còn bởi những bí ẩn bao phủ quanh nàng.
“Nefertiti”, trong tiếng Ai Cập nghĩa là “người đẹp đang tới”, là cái tên hoàn toàn xứng đáng với nữ hoàng Ai Cập cổ đại.
Một
trong những câu truyện đẹp và gợi cảm nhất về Nefertiti là màn trình
diễn thoát y vũ mỗi buổi sáng sớm. Khi những tia nắng mặt trời đầu tiên
rọi chiếu Ai Cập cũng là lúc nàng Nefertiti bắt đầu màn khiêu vũ khỏa
thân, nhằm kích động vị thần mặt trời.
Người
ta kể lại rằng Nefertiti nhảy múa giữa một dàn nhạc công mù, để họ
không thể thấy được vẻ đẹp rạng ngời của bà hoàng trong nghi thức tôn
giáo này. Trong tiếng vỗ tay và ca hát, Nefertiti trút bỏ bộ xiêm y
trong suốt, hiến dâng tấm thân ngọc ngà cho ánh mặt trời ve vuốt.
Người
dân Ai Cập tin rằng nếu thần mặt trời bị kích động trước nhan sắc
khuynh thành của nàng, thần dân Ai Cập cũng được ưu đãi.
Truyền
thuyết đồn đại về nàng và sương mù của bí ẩn bao phủ quanh hình ảnh
người con gái đẹp nhất Ai Cập. Nefertiti là vợ của Pharaoh Akhenaten, và
nàng đã tìm mọi cách để giữ người đàn ông đầy uy quyền này cho riêng
mình. Lời đồn còn đi xa hơn nữa khi cho rằng Nefertiti đã yểm bùa mê lên
người chồng.
Liệu
bùa mê của Nefertiti có tác dụng hay không? Không ai có thể trả lời
chính xác câu hỏi này. Chỉ biết rằng Akhenaten đã mê đắm nàng trong suốt
một thời gian dài. Chiều theo ý thích của Nefertiti, Akhenaten đã trao
quyền lực tối ưu cho nàng, lựa chọn tôn sùng thần mặt trời trên mọi thần
khác. Điều này đã làm cho rất nhiều thày tu nổi giận, gây nên sóng gió
cho gia đình hoàng tộc sau này.
Nefertiti
nắm giữ những bí quyết quyến rũ đàn ông mà đến ngày nay nhiều người phụ
nữ vẫn phải “chạy dài” học tập. Trước đêm ân ái, nàng tắm bằng thứ nước
ướp hương liệu đặc biệt rồi bôi sáp thơm vào các khớp trên cơ thể. Cuối
cùng là nàng xức lên mình thứ nước hoa ngào ngạt.
Nefertiti cạo sạch tóc và đội tóc giả, cắt cao sau cổ và rủ che mặt, nhấn mạnh đôi mắt bằng phấn đen ấn tượng.
Nefertiti
sinh được 6 người con những trớ trêu tất cả đều là con gái. Điều này đã
khiến nàng không thể giữ nổi chân của Akhenaten khi Kiya, một người vợ
khác sinh hạ hoàng tử Tutankhamun.
Cái
chết và nơi chôn cất Nefertiti là bí ẩn lớn với nhân loại trong một
thời gian dài. Chỉ đến năm 2003, Fletcher, một nhà khảo cổ học đã tìm
được những đầu mối chứng minh một xác ướp tại Thung lũng các nhà vua là
thi thể của người đẹp.
Điều
gây chấn động nhấn là cơ thể đó đầy thương tật. Ngực và cổ bị rạch nát,
ngực trái bị đâm, cánh tay trái và bàn chân bị gãy. Nhiều nhà khoa học
đã đặt ra giả thuyết Nefertiti bị sát hại bởi những kẻ ghen ghét nàng,
có thể là những thầy tu dòng Amen, những người phản đối việc tôn thờ duy
nhất thần mặt trời, cũng có thể là những người vợ khác của Akhenaten,
từng bị Nefertiti trả thù.
Những
bí ẩn này vẫn còn cần rất nhiều nghiên cứu trước khi sáng tỏ. Chỉ có vẻ
đẹp của nàng Nefertiti vẫn còn được lưu giữ trong bức tượng khả ái của
người đẹp, trưng bày ở viện bảo tàng Berlin (Đức), với chiếc cổ thon dài
và nụ cười đỏ quyến rũ.
Nguyễn Hiền Trang (TH)
Nguồn : http://xzone.vn/Web/77/482/77370/Bi-an-cac-nen-van-minh-co-dai-Ky-3.html
Bí ẩn các nền văn minh cổ đại (kỳ 4)
08.05.2012 08:48
Những bức tượng nhân sư gắn liền với
truyền thuyết bí ẩn không lời giải đáp của người Ai Cập cổ đại.
Nhân sư (Sphinx) là một quái vật tạc
bằng đá, mình sư tử đồ sộ, đầu người được chạm trổ công phu với đôi mắt
đầy vẻ bí hiểm. Tượng nhân sư nổi bật bởi vẻ đồ sộ của mình với chiều
cao từ 18 – 20 mét và trải dài tới gần 60 mét.
Tượng Sphinx có niên đại đã rất lâu
đời khoảng 5000 năm, và được xây dựng bên các kim tự tháp Ai Cập cổ đại
và cho đến nay lý do vì sao chúng được dựng nên vẫn còn là một bí ẩn đối
với nhân loại.
Có rất nhiều giả thuyết giải thích cho
sự ra đời của các nhân sư. Có người cho rằng những bức tượng nhân sư
được tạc để canh giữ phần mộ của những vị pharaoh Ai Cập cổ đại. Lại có
giả thuyết khác khẳng định Sphinx chính là hiện thân của thần Mặt trời
Harmachis, vị thần mà người Ai Cập cổ đại thờ phụng.
Một trong những giả thuyết rất được
ủng hộ là tượng nhân sư là biểu tượng của các vị hoàng đế Ai Cập. Theo
người Ai Cập, vị vua có sức mạnh của loài sư tử, vua của muôn loài, và
trí tuệ siêu phàm, vì vậy họ đã chạm các vị hoàng đế và thần thánh của
họ nửa người, nửa thú.
Tượng nhân sư lớn nhất và nổi tiếng
nhất là Tượng nhân sư lớn nằm trên cao nguyên Giza, quay mặt về hướng
Đông và thường được cho là khắc họa đầu của pharaoh Khafra.
Nhân vật này cũng xuất hiện rất nhiều
trong các truyền thuyết bí ẩn của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt
là ở Hy Lạp với biển thế nhân sư là một con quỷ với đầu và bộ ngực phụ
nữ, thân sư tử, cánh đại bàng và đuôi rắn.
Một trong những câu chuyện mà người ta
hay truyền tai nhau về nhân sư là chuyện nhân sư gác cửa thành phố
Thebes, Hy Lạp do người khổng lồ Typhon và yêu quái rắng Echidna sinh
ra. Từng theo học nữ thần trí tuệ nên Sphinx rất thông minh nhưng lại
hung tàn. Nó nằm phục trước cổng thành Thebes và đưa ra những câu đố bí
hiểm cho ai muốn vào thành. Câu đố này không được ghi lại chính xác
nhưng đã được dân gian truyền tụng lại dưới nhiều hình thức khác nhau.

Câu đố nổi tiếng nhất được truyền lại
chính là: “Sinh vật nào buổi sáng đi bằng bốn chân, buổi trưa đi hai
chân và buổi chiều đi ba chân, và khi nó càng có nhiều chân thì nó càng
yếu”. Nhân sư bóp cổ và ăn thịt tất cả những ai không trả lời được. Cũng
chính vì vậy nó mới có tên là Sphinx, một động từ mà theo gốc La Tinh
có nghĩa là “bóp cổ”.
Một câu đố khác hiếm gặp hơn (và cũng khó hơn) là: “Có hai chị em: một
người sinh ra người kia và người kia lại sinh ra người này” và câu trả
lời là “ngày và đêm”, cả 2 đều là giống cái trong tiếng Hy Lạp.
Dù là câu đố nào đi chăng nữa, tất cả
đều thống nhất rằng một người thanh niên tên là Oedipus đã trả lời đúng
câu hỏi này, khiến nhân sư nổi giận lao đầu xuống thềm đá chết.
Gần đây nhất, vào năm 1991, một nhóm
các nhà địa chất học đã tuyên bố những nghiên cứu mới nhất về tượng nhân
sư trong đó khẳng định những bức tượng sư tử mặt người này đã được điêu
khắc từ 7000 năm trước công nguyên, xa hơn cả niên đại của người Ai Cập
cổ đại.
Một nghi vấn mới được đặt ra: Nếu
những kim tự tháp có thể là sản phẩm của một trí tuệ siêu phàm ngoài
trái đất thì vì sao Sphinx – những bức tượng nhân sư cùng một quần thể
lại không thể và liệu có chăng một thế lực bí ẩn “nhúng tay” vào những
công trình trên trái đất. Tất cả đều là bí ẩn, tựa như nụ cười mỉm và
ánh mắt xa xăm của bức tượng nhân sư đồ sộ.
Nguyễn Hiền Trang (TH)
Nguồn : http://xzone.vn/Web/77/482/77446/Bi-an-cac-nen-van-minh-co-dai-Ky-4.html
Bí ẩn các nền văn minh cổ đại (kỳ 5)
09.05.2012 11:08
Quá trình ướp xác rùng rợn nhưng thể
hiện một trí tuệ vượt bậc đã khiến báo chí tốn bao giấy mực.
1. Vì sao người Ai Cập ướp xác?
Người
Ai Cập cổ đại tin rằng thân thể là nơi trú ngụ của linh hồn và là phần
chủ chốt của con người trong kiếp sau. Họ không cho rằng những công đoạn
ướp xác là khủng khiếp hay rùng rợn mà quan niệm cái chết có một ý
nghĩa đẹp, là sự chuẩn bị cho việc trình diện trước thượng đế.
2. Quy trình ướp xác của người Ai Cập cổ đại?
Ban
đầu, người chết được đặt trong những chiếc giỏ bằng sậy và vùi xuống
cát. Do điều kiện khô nóng của Ai Cập, cát sẽ khiến xác người khô đi
nhanh chóng, ngăn chặn được sự phân hủy. Trong khi những người thợ lành
nghề phải chạy đua để xây dựng lăng mộ, những người ướp xác bắt đầu
chuẩn bị cho những quá trình ướp kỹ lưỡng hơn, giúp xác chết không bị
phân hủy.
Bước
đầu tiên của quá trình ướp xác là loại bỏ các cơ quan nội tạng. Người
ướp xác dùng đục đập vỡ xương cuối mũi và dùng một cái móc luồn qua lỗ
mũi đến sọ và làm vỡ não để dễ dàng lấy não ra ngoài.
Để
lấy ra các phần nội tạng, những người ướp xác rạch một vết ở bên trái
bụng, chỉ riêng trái tim được đặt ở chỗ cũ. Các phần nội tạng này được
đặt trong một chiếc bình kín và chôn cùng trong lăng mộ vì họ tin rằng
con người vẫn cần đến nội tạng để sống được ở thế giới bên kia, chỉ có
não là bị bỏ đi vì người Ai Cập vẫn chưa biết đến chức năng của nó.
Sau
công đoạn đáng sợ này, xác được tắm bằng rượu cọ hay nước sông Nile để
triệt tiêu vi khuẩn sinh sôi trong xác chết, những túi lanh đựng muối
Natron được nhét vào ổ bụng qua đường rạch để ngừa ẩm. Xác được đặt ở
chỗ nóng và phủ đầy natron, một miếng kim loại hình con mắt của thần
Horus được đặt lên vết rạch ở bụng.
Những bùa chú cũng được đặt cùng với xác ướp để bảo vệ tuyệt đối giấc ngủ của người đã khuất.
3. Nghi lễ chôn cất cổ đại như thế nào?
Tùy
theo từng tầng lớp xã hội mà xác ướp sẽ được chôn cất. Với những người ở
tầng lớp thấp, hầm mộ sẽ chỉ được xây cất sơ sài hay ở rìa những hầm mộ
lớn. Những người ở địa vị cao hơn được chôn kỹ trong hầm mộ được trang
trí và đặc biệt những Pharaoh, người nắm quyền lực tối đa ở Ai Cập sẽ
được xây trong quan tài đá, được trang trí tỉ mỉ.
Nghi lễ cuối cùng là lễ mở miệng khi thày tu dùng que móc mở miệng xác ướp để xác ướp có thể nói chuyện trong kiếp sau.
Người Ai Cập còn ướp cả xác động vật, đặc biệt là mèo vì tin vào sức mạnh của các loài động vật.
Theo
người Ai Cập, người chết không thực sự tan biến mà vẫn tồn tại, và chỉ
đang yên ngủ, vì vậy bất cứ sự xâm phạm nào vào nơi yên nghỉ của những
xác ướp cũng sẽ bị trừng phạt. Những lời nguyền này có thật hay không,
không ai có thể biết chắc, chỉ biết rằng một loạt những cái chết thảm
khốc đã xảy ra với những người dám phá bĩnh giấc ngủ nghìn năm của các
Pharaoh.
Hiền Trang (TH) Nguồn : http://xzone.vn/Web/77/482/77578/Bi-an-cac-nen-van-minh-co-dai-Ky-5.html
Bí ẩn các nền văn minh cổ đại (kỳ 6)
14.05.2012 07:53
Một trong những bí ẩn của người Ai Cập
để lại cho nhân loại chính là hệ thống chữ viết tượng hình cổ.
Chữ tượng hình hay Hieroglyph bắt
nguồn từ tiếng Hy Lạp nghĩa là “những chữ khắc thần thánh”, ra đời từ
khi xã hội có giai cấp bắt đầu hình thành ở Ai Cập. Đây là một hệ thống
chữ viết chính thức phối hợp giữa các yếu tố tốc ký và các mẫu tự.
Ký tự khắc đầu tiên được tìm thấy
trong các di tích cổ có niên đại khoảng 3200 năm trước công nguyên. Tuy
nhiên, gần đây, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những ký hiệu tương đồng
trên đồ gốm Gerzean, với niên đại lâu hơn, tới 4000 năm trước Công
nguyên.
Sở dĩ chữ được gọi là chữ tượng hình
là do dạng thức sơ khai của nó là biểu thị vật bằng hình thù của vật ấy.
Vì vậy, nhìn vào các văn tự Ai Cập cổ đại, ta sẽ thấy các hình vẽ
người, động vật như chim, gia súc, dã thú, cây cối, trăng sao, núi non…
Đối với các khái niệm trừu tượng, phức
tạp hơn, người Ai Cập cổ dùng phương pháp ghép ý hay mượn ý. Ví dụ muốn
nói đến chữ “khát” thì vẽ một con bò đứng cạnh nước. Về sau, khi chữ
viết đã phát triển hơn nữa, những hình vẽ biểu thị âm tiết dần xuất
hiện. Ví dụ từ con mắt sẽ được biểu thị bằng âm tiết “ar”.
Các chữ tượng hình có thể được viết từ
mọi hướng: phải sang trái, trái sang phải, trên xuống dưới nhưng thông
thường là từ trái sang phải. Khi đọc, cần chú ý hướng mặt của người hay
động vật. Nếu mặt quay về phía trái thì cần đọc từ trái sang phải và
ngược lại.
Vào thiên niên kỷ II trước Công
nguyên, loại chữ viết này được người Fenici học tập rồi trên cơ sở ấy
sang tạo ra vần chữ cái đầu tiên trên thế giới.
Năm 1789, Napoleon trong một chuyến
viễn chinh sang thành phố Rosetta, Ai Cập đã phát hiện một tấm bia phía
trên có khắc chữ Ai Cập cổ và phía dưới khắc chữ Hy Lạp. Đến năm 1822,
Champollion, một nhà ngôn ngữ học người Pháp đã giải mã được thứ chữ
trên bản khắc này đặt nền móng cho một môn khoa học mới ra đời. Đó là
môn Ai Cập học.
Một huyền thoại về chữ tượng hình Ai
Cập là huyền thoại về những lời nguyền và thần chú. Thực tế, hầu hết các
bản khắc đều là miêu tả lịch sử của các thày tu. Tuy nhiên, vẫn có
những câu mang đầy tính “đe dọa” như: “Tuổi thọ của mi sẽ bị giảm đi”,
hay “Mi sẽ không có người thừa kế” khắc trên hầm mộ của các Pharaoh, gây
nỗi hoang mang cho nhân loại bao thời đại.
Một trong những bí ẩn khác về chữ
tượng hình là việc xuất hiện hình ảnh rất rõ ràng của một chiếc máy bay
trong hệ thống chữ cổ. Điều này đặt ra một câu hỏi mới cho nền khoa học.
Liệu có thể nào trí tuệ của người Ai Cập cổ đại đã phi thường đến mức
sáng chế ra máy bay từ kỷ nguyên ấy, hay tất cả chỉ là sản phẩm của một
trí tưởng tượng vượt trước thời đại.
Hình ảnh máy bay trên mẫu tự cổ
Hiền Trang (TH)
Nguồn : http://www.baomoi.com/Home/KhoaHoc-TuNhien/xzone.vn/Bi-an-cac-nen-van-minh-co-dai-ky-6/8460132.epi
Những truyền thuyết bí ẩn về Ai Cập cổ đại
|
|
|
Xem thêm: ai cập, ai cập cổ đại, truyền thuyết bí ẩn, vẻ đẹp của nữ hoàng cleopatra, người ngoài hành tinh, ám ảnh bởi cái chết, chữ tượng hình, lời nguyền của các pharaoh, pharaoh giết hại người hầu, cách trang trí trong kim tự tháp, nô lệ xây kim tự tháp
|
Ai
Cập cổ đại vốn được biết đến với vô vàn truyền thuyết bí ẩn, những khám
phá dưới đây sẽ cho bạn có những cái nhìn mới về những điều đó.
1. Vẻ đẹp của nữ hoàng Cleopatra

Cleopatra VII, vị Pharaoh cuối cùng của
Ai Cập cổ đại luôn luôn là một nhân vật lịch sử nổi tiếng với vẻ đẹp
quyến rũ. Ý tưởng này đã tồn tại trong hầu hết tất cả mọi người từ
Shakespeare cho đến đạo diễn phim Joseph L. Mankiewicz. Tuy nhiên, đồng
tiền La Mã lại cho thấy Cleopatra có các đường nét nam tính: một chiếc
mũi lớn, cằm nhô ra và đôi môi mỏng - không phải bất kỳ nguyên mẫu nào
của văn hóa đều có ngoại hình đẹp. Mặt khác, theo một số nguồn tài liệu
đáng lưu ý Cleopatra rất thông minh, trái ngược với vẻ đẹp bên ngoài.
2. Bị ám ảnh bởi cái chết
Tìm hiểu về Ai Cập cổ đại với các kim tự
tháp, xác ướp và các vị thần, thật dễ dàng để đi đến kết luận họ bị ám
ảnh bởi cái chết. Cách thức mà người Ai Cập mai táng thực sự là một cách
để tôn vinh cuộc sống. Ví dụ, những hoạ tiết minh họa bên trong các
ngôi mộ là buổi lễ thờ cúng nông nghiệp, săn bắn và câu cá. Hơn nữa, các
đồ trang sức đắt tiền được chôn cùng với người Ai Cập đã giúp họ tiếp
cận với thế giới bên kia, nơi họ tiếp tục công việc hiện tại của họ mà
không gặp bất kỳ khó khăn nào. Ướp xác là một cách để giữ cho xác chết
sống động như thật, sẵn sàng cho hình thức lý tưởng hóa cuộc sống hàng
ngày. Rõ ràng là người Ai Cập bị ám ảnh bởi cuộc sống, không phải là cái
chết.
3. Người ngoài hành tinh
Có một số người tin rằng người Ai Cập đã
được tiếp xúc với người ngoài hành tinh. Họ cáo buộc rằng các kim tự
tháp là những thành tựu siêu phàm và một số bức tranh tường mô tả những
nơi ngoài Trái Đất. Điều này có lẽ đã xúc phạm đến các di sản của người
Ai Cập cổ đại. Trong khi kim tự tháp Giza là thành tựu toán học đáng
kinh ngạc, công trình của các nhà thiên văn học tài tình, các học giả và
các kiến trúc sư của thời đại. Và trong khi các Kim Tự Tháp đóng vai
trò là cấu trúc cao nhất trong gần 4000 năm, cũng không có nghĩa người
Ai Cập là những người bạn với người ngoài hành tinh, nó chỉ có nghĩa là
không có nền văn hóa nào có thể sánh với cấu trúc tượng đài của người Ai
Cập cho đến thế kỷ 19.
4. Hoàn toàn được khám phá
Nhiều người tin rằng chúng ta đã phát
hiện ra tất cả mọi thứ về Ai Cập cổ đại. Điều này là hoàn toàn không
chính xác. Những khám phá hấp dẫn về Ai Cập cổ đại vẫn đang được tiến
hành hàng ngày nhằm làm sáng tỏ nhiều điều mới mẻ về nền văn minh của
họ. Ví dụ, một "thuyền năng lượng mặt trời" hiện đang được
chiết xuất từ các kim tự tháp. Tàu năng lượng mặt trời này được cho
rằng, sẽ cho phép thi thể của các Pharaoh hỗ trợ thần mặt trời Ra trong
trận chiến với Apep, con quỷ của bóng tối vĩnh cửu. Mỗi đêm, thần Ra sẽ
đi thuyền buồm năng lượng mặt trời của mình để chiến đấu với Apep và vào
lúc bình minh, thần Ra sẽ nổi lên với niềm chiến thắng và đi ngao du
trên bầu trời.
5. Chữ tượng hình
Mọi người dường như đều cho rằng người
Ai Cập cổ đại phát minh ra chữ tượng hình. Tuy nhiên, chữ tượng hình
nguyên thủy có lẽ được truyền bá vào Ai Cập nhờ những người phương Tây
xâm lược. Một huyền thoại khác cho rằng chữ tượng hình là một ngôn ngữ
của lời nguyền và những câu thần chú kỳ diệu. Trong thực tế, hầu hết các
chữ tượng hình đều được sử dụng cho các bản chữ khắc hoặc miêu tả lịch
sử. Lời nguyền hiếm khi được tìm thấy trong các ngôi mộ và hầu như đều
là những câu: "Tuổi thọ của mi sẽ bị giảm đi" hay "Mi sẽ không có người thừa kế".
Thật thú vị, cho đến khi Rosetta Stone được phát hiện vào năm 1798, và
sau đó được dịch ra thì hầu hết các học giả tin rằng các chữ tượng hình
minh họa không phải là âm ngữ âm để tạo thành một bảng chữ cái.
6. Cách trang trí trong kim tự tháp
Chữ tượng hình chiếm một phần lớn trong
nội thất của nhiều ngôi mộ cổ và cung điện của Ai Cập. Nhưng trái với
huyền thoại, các kim tự tháp hầu như không được trang trí. Thật vậy, cho
đến gần đây các kim tự tháp tại Giza được cho là hoàn toàn trần bên
trong. Giả thiết này đã bị phá vỡ khi chữ tượng hình đã được tìm thấy
đằng sau một cánh cửa bí mật trong các Kim Tự Tháp một vài tháng trước
đây. Ngoài ra, các kim tự tháp không hoàn toàn là đá vôi màu 4000 năm
trước: một số đoạn, chẳng hạn như các trụ cột nội thất, được sơn màu đỏ
hoặc màu trắng. Loại sơn này và các văn bản bí ẩn khiến cho các kim tự
tháp trở nên rất giản dị. Kiến trúc chủ yếu là xi măng và các kim tự
tháp là các tòa nhà bằng đá lâu đời nhất và phổ biến nhất trên thế giới.
7. Các Pharaoh giết hại người hầu
Khi các vị vua chết, người hầu của họ
không bị giết và chôn cùng giống như hầu hết mọi người vẫn tin, ngoại
trừ một số trường hợp ngoại lệ. Hai vị vua của triều đại đầu tiên của Ai
Cập được biết đến với việc chôn người hầu cùng với họ. Xu hướng khái
quát của con người đã dẫn đến truyền thuyết. Các vị vua sau này có thể
nhận ra rằng các người hầu đáng tin cậy của họ hữu ích khi còn sống hơn
là phải chết, vì vậy thay thế cho những người hầu là những bức tượng nhỏ
được chôn cùng với chủ để giúp đỡ các Pharaoh ở thế giới bên kia.
8. Những nô lệ xây kim tự tháp
Ý nghĩ nô lệ xây dựng các kim tự tháp ở
Ai Cập đã được lưu hành kể từ khi nhà sử học Hy Lạp Herodotus báo cáo
trong thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên. Điều này đã được xác nhận là sai
lầm khi ngôi mộ chứa hài cốt của những người xây dựng kim tự tháp được
tìm thấy bên cạnh các kim tự tháp ở Giza. Được chôn cất bên cạnh các vị
vua là vinh dự lớn nhất, không bao giờ cấp cho các nô lệ. Ngoài ra, số
lượng lớn xương gia súc được khai quật tại Giza cho thấy thịt bò, một
món ăn ở Ai Cập cổ đại, là thực phẩm chủ yếu của những người xây dựng.
Xây dựng các kim tự tháp rõ ràng phải là những thợ thủ công có tay nghề
của Ai Cập, không phải là nô lệ như mọi người nghĩ.
9. Lời nguyền của các Pharaoh
“Lời nguyền” đối với những
người mở ngôi mộ của Pharaoh Tutankhamun là một thắng lợi của phương
tiện truyền thông quảng cáo và tính nhạy cảm của công chúng. Truyền
thuyết này là về một lời nguyền của Tutankhamun đã giết chết nhà tài trợ
Lord Carnarvon và các thành viên khác của đoàn thám hiểm. Mặc dù một số
giả thuyết đã được đưa ra như là do một loại nấm nguy hiểm và các loại
khí tích tụ bên trong ngôi mộ, những cái chết vẫn không có một lời giải
thích. Chỉ có 8 trong 58 nhà thám hiểm phát hiện ra ngôi mộ đã chết
trong vòng 12 năm. Người dẫn đầu đoàn thám hiểm Carter đã sống trên 16
năm. Những sự trùng hợp khác là một trường hợp xác nhận thiên vị: bất kỳ
sự bất hạnh nào xảy ra với bất cứ ai trong đoàn thám hiểm đều được gán
cho là do lời nguyền của các Pharaoh. Lời nguyền là một ví dụ điển hình
của sự thúc đẩy người dân tin vào một câu chuyện thú vị thay vì các sự
kiện.
|
|
|
Theo Genk, Listverse |
+++++++++++++++++++++++++++++++++
1.7 Tôn giáo Ai Cập cổ đại
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tôn giáo Ai Cập cổ đại bao gồm các niềm tin tôn giáo và nghi thức khác nhau tại
Ai Cập cổ đại qua hơn 3.000 năm, từ thời kỳ Tiền Triều Đại cho đến khi du nhập
Kitô giáo trong những thế kỷ đầu
Công nguyên.
Những niềm tin này tập trung vào thờ cúng các vị thần đại diện cho
nhiều khía cạnh, ý tưởng và chức năng quyền lực khác nhau của thiên
nhiên, thể hiện qua các nguyên mẫu phức tạp và đa dạng. Vào thời kỳ của
triều đại thứ 18, người Ai Cập đã có nâng vị thế một số đơn vị thần như
Amun
lên hàng đấng sáng tạo vũ trụt với nhiều biểu hiện, tương tự như khái
niệm kinh tế cũng được tìm thấy trong đạo Ki-tô: niềm tin rằng một
Thượng đế có thể tồn tại trong nhiều hơn một người
[1].
Những vị thần được tôn thờ với các nghi lễ và cầu nguyện, trong các
ngôi đền địa phương và đền thờ gia đình cũng như trong ngôi đền chính
thức quản lý bởi các giáo sĩ. Các vị thần khác nhau đã được nổi bật ở
giai đoạn khác nhau của
lịch sử Ai Cập,
và các huyền thoại liên quan đến họ thay đổi theo thời gian, do đó, Ai
Cập chưa bao giờ có một hệ thống thứ bậc các vị thần chặt chẽ hay một
thần thoại thống nhất. Dù vậy, trong tôn giáo Ai Cập có nhiều niềm tin
bao quát. Trong số đó có sự tôn thờ của
pharaon - đã giúp thống nhất quốc gia về mặt chính trị
[2], và niềm tin phức tạp về một thế giới bên kia, mà đã dẫn đến việc gia tăng tục chon cất công phu của người Ai Cập.
Các vị thần
Truyền thuyết về các vị thần của
Ai Cập cổ đại khá đặc biệt. Thần Mặt Trời, hay Thần Thái Dương là
Ra, sinh ra hai vị thần, nam thần
Shu - thần
không khí và nữ thần
Tefnut, thần
hơi nước [3]. Shu và Tefnut cưới nhau rồi sinh ra đôi thần trai gái là
Nut và
Geb.
Nut và Geb cũng yêu nhau, nhưng bị cha cấm hẹn hò vì vậy họ phải lén
lút với nhau. Một hôm, thần Shu bắt gặp, ném Nút lên trời, đạp Gép xuống
sâu trong mặt đất
[4]. Từ đó, Nút là nữ thần bầu trời, Gép là nam thần mặt đất. Nhưng nhờ có
thần trí tuệ Thot,
cả hai cũng được cưới nhau và bên nhau chỉ trong năm ngày (thần Shu làm
cho lịch thành 360 ngày, thần Thot thắng 72 ván cờ với thần Shu nên đã
làm cho lịch chuyển thành 365 ngày nhờ ánh sáng của thần Thái dương).
Nút sinh ra năm vị thần là:
Osiris,
Isis,
Seth,
Nephthis và
Haeroit.
Cả năm vị thần đều là những vị thần quan trọng trong thế giới Ai Cập,
được ghi chép lại trong cuốn "Book of The Dead" nghĩa là
Sách của Người Chết.
Thần Ra
Thần Ra, Thần Mặt trời của Ai Cập.
Thần
Ra
là Thần Mặt trời của Ai Cập. Trong Sách của Người Chết có miêu tả thần
Ra vào buổi sáng biến thành một em bé, buổi trưa trở thành một thanh
niên lực lưỡng và về chiều tối, thần trở thành một ông cụ
[5].
Truyền thuyết kể lại rằng,
Isis, vợ của
Osiris, ghen tỵ với thần Ra, nàng liền nặn một con
rắn
bằng đất ở chỗ thần Ra vẫn thường đi lại. Khi thần Ra tới, nàng núp sau
một tảng đá, hóa phép cho con rắn thức dậy, con rắn liền cắn thần Ra
một nhát chí mạng. Thế là, mọi quyền của thần Ra đều thuộc về Isis
[6].
Osiris và Seth
Osiris cưới Isis rồi Isis sinh ra Horus. Osiris được nối ngôi Thần
thái dương, trở thành thần nông nghiệp, thần sinh đẻ và thần hạnh phúc
đem hạnh phúc cho nhân loại, cải tạo
nông nghiệp, dạy dân
trồng nho,
làm rượu,
trồng ngũ cốc và chăn
gia súc [7].
Osiris cũng dạy con người cách xây đền thờ, xây kim tự tháp nguy nga,
tráng lệ. Osiris đi đâu cũng được mọi người kính trọng và yêu quý. Tuy
nhiên, thần Seth, em trai của thần Osiris, lại ghẻ lạnh và căm ghét
Osiris chỉ vì anh được nối ngôi, được mọi người kính trọng. Rồi Seth đã
nghĩ ra kế hiểm độc đó là giết chết anh trai bằng cách dụ Orisis nằm vào
quan tài
rồi đóng đinh và thả xuống biển. Sau đó, Seth chiếm đoạt ngôi vị của
anh trai và làm bao điều bạo tàn, ác độc khiến cho dân chúng và các vị
thần khác bất bình
[8].
Isis biết chuyện, đau khổ vô cùng và tìm mọi cách để tìm thân thể
Osiris. Sau khi tìm thấy thân thể chồng, Isis kể lại cho con trai
Horus nghe. Từ đó, Horus nung nấu ý định giết Seth, trả thù cha.
Cuộc chiến căng thẳng giữa Horus và Seth
Khi đã lớn, Horus triệu tập nhiều trai tráng trong vùng để tập
võ,
thành lập một đội để trả thù Seth. Ngày càng có nhiều người vào đội của
Horus. Ngày nọ, Horus đến tuyên chiến với Seth nhưng thất bại. Lần hai,
Horus đã bẫy được Seth bằng cách cho thuộc hạ núp ở tòa lâu đài rồi
căng lưới ra mà bắt. Nhưng Isis tốt bụng đã tha cho Seth, Horus chặt đi
một đuôi tóc của Isis
[9]
rồi lại tuyên chiến lần nữa, nhưng lần này, cả hai đều lên trời nhờ 9
vị thần trên bầu trời xử giúp. Cả 9 vị thần đều biết câu chuyện xấu số
của
Orisis nên đều nói rằng
Horus được nối ngôi.
Nhưng Seth vẫn không chịu thua, Horus cũng tuyên chiến với Seth lần
nữa. Sau những gian nan hiểm trở, cuối cùng, Horus được nối ngôi cha và
Seth bị Thần thái dương Ra sai làm nô tì cho thần.
Câu chuyện về âm phủ và thế giới bên kia
Con quái vật Ammit, người
Ai Cập tin rằng con quái vật sẽ ăn trái tim của người chết nếu người đó nói dối.
Người Ai Cập tin rằng ở thế giới bên kia, các vị thần chờ những người
đã mất ở đó để đón lên thiên đàng hoặc đày xuống địa ngục. Khi qua
thiên đường, phải gặp thần
Anubis,
Anubis dẫn người chết đi đến chiếc cân trái tim, để cân xem người đó ác
hay tốt. Nếu anh ta nói dối, chứng tỏ anh ta là người xấu, sẽ bị
Ammit, con quái vật hình cá sấu ăn trái tim và bị đày đi địa ngục. Còn nếu trả lời đúng, anh ta sẽ được tiếp đón hậu hĩnh bởi thần
Osiris, thần âm phủ
[10].
Người Ai Cập rất mê tín nên họ chả dám làm gì sai trái vì câu chuyện
trên. Nhưng không phải tất cả đều làm điều tốt. Và tất nhiên là xã hội
bao giờ mả chả thế!
Các kim tự tháp và việc thờ cúng
-
Người Ai Cập cổ đại thường quan niệm rằng nếu xác chết được đặt trong
kim tự tháp, linh hồn sẽ được bất tử. Nhưng chỉ có các
pharaoh và
hoàng hậu
mới có vinh dự được nằm trong kim tự tháp. Người dân tẩm ướp xác chết,
móc lấy não từ đầu mũi, lấy nội tạng ra ngoài, cho vào nhiều hũ bằng
gỗ hoặc vàng và tắm rửa sạch sẽ cho xác. Rồi họ bôi
dầu thơm và sáp vào xác pharaoh. Sau đó, người ta sẽ bọc xác bằng nhiều lớp
vải lanh, rồi cho vào nhiều lớp
quan tài bằng
gỗ hoặc
vàng và lắp mặt nạ của họ vào đầu quan tài để trông giống như người thật. Khi chôn cất, người ta còn mang theo
châu báu,
hương hoa và đặt bẫy để những linh hồn xấu không quấy rầy vị pharaoh của họ.
Việc xây dựng
kim tự tháp
không phải là việc dễ chút nào khi họ phải kéo những tảng đá to đùng
lên cao và mài cho nó nhọn hoắt như hình tam giác. Kim tự tháp được xây
dựng trước khi các
pharaoh chết và vào mùa hè, đó là khi nước
sông Nile
dâng lên. Công việc hết sức khó khăn. Các hòn đá nặng hàng ki-lô-gam
được kéo bằng dây chõng lên cao. Sau khi xây xong bằng các hòn đá tảng,
kim tự tháp như một cầu thang khổng lồ. Vì vậy, công việc tiếp theo là
ốp đá cho kim tự tháp nhọn hoắt.
Việc thờ cúng là một nghi lễ ở Ai Cập cổ. Sau khi chôn cất, người dân mang đồ lễ, hương hoa,
đèn,
lương thực... đến đền thờ các vị thần và đền thờ pharaoh để cầu phước cho mình được bất tử ở thế giới bên kia.
Chú thích
- ^ Allen (2000), pp.43–45
- ^ Fleming and Lothian (1997), p. 12
- ^ Thần thoại Ai Cập, chương 1
- ^ Thiên văn học Ai Cập cổ đại, p.69
- ^ Ancient Egyptian legend, chapter 3
- ^ Thần Ra., truyền thuyết
- ^ Thần Osiris
- ^ Ác thần Seth, wikipedia tiếng Việt.
- ^ Nữ thần Isis, wikipedia tiếng Việt.
- ^ Sách Ai Cập cổ đại, Tủ sách kiến thức Thế hệ mới, Nhà xuất bản Kim Đồng.
Tài liệu tham khảo
- Allen, James P. (2000). Middle Egyptian: An Introduction to the Language and Culture of Hieroglyphs. Cambridge University Press. ISBN 0521774837.
- Assmann, Jan (2005). Death and Salvation in Ancient Egypt. Cornell University Press. ISBN 0801442419.
- Assmann, Jan (2001). The Search for God in Ancient Egypt. Cornell University Press. ISBN 0801487293.
- David, Rosalie (2002). Religion and Magic in Ancient Egypt. Penguin. ISBN 0140262520.
- Draper, Robert. “Black Pharaohs”, số ra 2, 1 tháng 2 năm 2008.
- Fleming, Fergus; Alan Lothian (1997). The Way to Eternity: Egyptian Myth. Amsterdam: Duncan Baird Publishers. ISBN 0705435032.
- Hornung, Erik (1999). The Ancient Egyptian Books of the Afterlife. Cornell University Press. ISBN 0801485150.
- Pinch, Geraldine (1995). Magic in Ancient Egypt. University of Texas Press. ISBN 0292765592.
- Quirke, Stephen; Jeffrey Spencer (1992). The British Museum Book of Ancient Egypt. Thames and Hudson. ISBN 0500279020.
- Redford, Donald B., ed (2002). The Oxford Essential Guide to Egyptian Mythology. Berkley Publication Group. ISBN 042519096X.
- Shafer, Byron E., ed (1991). Religion in Ancient Egypt: Gods, Myths, and Personal Practice. Cornell University Press. ISBN 0801497868.
- Shafer, Byron E., ed (1997). Temples of Ancient Egypt. I. B. Tauris. ISBN 1850439451.
- Shaw, Ian, ed (2000). The Oxford History of Ancient Egypt. Oxford, England: Oxford University Press. ISBN 0198150342.
- Taylor, John (2001). Death and the Afterlife in Ancient Egypt. University of Chicago Press. tr. 25. ISBN 0226791645.
- Wilkinson, Richard H. (2003). The Complete Gods and Goddesses of Ancient Egypt. Thames & Hudson. ISBN 0500051208.
- Wilkinson, Richard H. (2000). The Complete Temples of Ancient Egypt. Thames & Hudson. ISBN 0500051003.
Đọc thêm
- Schulz, R. and M. Seidel, "Egypt: The World of the Pharaohs". Könemann, Cologne 1998. ISBN 3-89508-913-3
- Budge, E. A. Wallis, "Egyptian Religion: Egyptian Ideas of the Future Life (Library of the Mystic Arts)". Citadel Press. August 1, 1991. ISBN 0-8065-1229-6
- Clarysse, Willy; Schoors, Antoon; Willems, Harco; Quaegebeur, Jan, "Egyptian Religion: The Last Thousand Years : Studies Dedicated to the Memory of Jan Quaegebeur", Peeters Publishers, 1998. ISBN 90-429-0669-3
- Harris, Geraldine, John Sibbick, and David O'Connor, "Gods and Pharaohs from Egyptian Mythology". Bedrick, 1992. ISBN 0-87226-907-8
- Hart, George, "Egyptian Myths (Legendary Past Series)". University of Texas Press (1st edition), 1997. ISBN 0-292-72076-9
- Osman, Ahmed, Moses and Akhenaten. The Secret History of Egypt at the Time of the Exodus, (December 2002, Inner Traditions International, Limited) ISBN 1-59143-004-6
- Bilolo, Mubabinge, Les cosmo-théologies philosophiques d'Héliopolis et d'Hermopolis. Essai de thématisation et de systématisation, (Academy of African Thought, Sect. I, vol. 2), Kinshasa-Munich 1987; new ed., Munich-Paris, 2004.
- Bilolo, Mubabinge, "Les cosmo-théologies philosophiques de l’Égypte Antique. Problématique, prémisses herméneutiques et problèmes majeurs, (Academy of African Thought, Sect. I, vol. 1)", Kinshasa-Munich 1986; new ed., Munich-Paris, 2003.
- Bilolo, Mubabinge, "Métaphysique Pharaonique IIIème millénaire av. J.-C.
(Academy of African Thought & C.A. Diop-Center for Egyptological
Studies-INADEP, Sect. I, vol. 4)", Kinshasa-Munich 1995 ; new ed.,
Munich-Paris, 2003.
- Bilolo, Mubabinge, "Le Créateur et la Création dans la pensée
memphite et amarnienne. Approche synoptique du Document Philosophique de
Memphis et du Grand Hymne Théologique d'Echnaton, (Academy of African Thought, Sect. I, vol. 2)", Kinshasa-Munich 1988; new ed., Munich-Paris, 2004.
- Pinch, Geraldine, "Egyptian Mythology: A Guide to the Gods, Goddesses, and Traditions of ancient Egypt". Oxford University Press, 2004. ISBN 0-19-517024-5
Liên kết ngoài
+++++++++++++++++++++++++++++++++
1.8 Tôn giáo Ai Cập cổ đại
Kiến trúc Ai Cập cổ đại
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Trang trí trần trong sảnh chính của Medinet habu
Nhà nước
Ai Cập cổ đại là một trong những nhà nước ra đời sớm nhất ở lưu vực
sông Nin vùng đông bắc
châu Phi. Nền văn minh Ai Cập cổ đại là một trong những nền văn minh cổ xưa nhất và rực rỡ nhất của nhân loại.
Đặc điểm của kiến trúc Ai Cập là công trình có quy mô lớn, kích thước
đồ sộ, nặng nề và thần bí. Trước khi nhắc đến sự phát triển của nghệ
thuật kiến trúc Ai Cập cổ đại, phải nói đến sự khéo tay trong nghề làm
đá của những người thợ giỏi trong xã hội
Ai Cập cổ đại. Vật liệu đá trong xã hội Ai Cập có nhiều loại:
đá vôi,
đá sa thạch,
đá đen,
đá thạch anh,
đá hoa cương,
đá minh ngọc...
Kinh nghiệm xây dựng thủy lợi trên hai bờ sông Nin giúp cho người dân
Ai Cập phát minh ra máy nâng và vận chuyển, biết cách tổ chức lao động
cho hàng vạn người một lúc. Mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt của công trình
kiến trúc được dùng với thước đo. Việc sử dụng dụng cụ như
rìu,
búa và
thước thủy chuẩn cũng rất chuyên nghiệp.
Kim tự tháp
Người Ai Cập cổ đại có tục lệ ướp xác, tạo thành các "
mummy" và chôn chúng trong những ngôi mộ đồ sộ là
Mastaba và
Kim tự tháp. Mastaba là lăng mộ của tầng lớp quý tộc, là một khối xây bằng đá, có mặt cắt
hình thang, mặt bằng
hình chữ nhật.
Trong Mastaba có ba phòng: sảnh, phòng tế lễ và phòng thờ (nơi đặt
tượng người chết). Từ mặt trên của Mastaba người ta đào một giếng
hình tròn hoặc
hình vuông, sâu đến khoảng 30
m.
Đáy giếng thông sang một hành lang rồi đến phòng mai táng (nơi để quan
tài). Sau khi chôn người chết, giếng được lấp kín. Ở Ai Cập còn tìm thấy
nhiều nơi có dấu vết của các khu vực có Masataba như khu lăng mộ vua
chúa ở
Memphis, xây dựng ở vương triều thứ ba, khoảng
thế kỷ 18 trước
Công nguyên. Loại hình kiến trúc này là nguồn gốc ban đầu của các Kim tự tháp.
Một trong những Kim tự tháp lớn xuất hiện đầu tiên là
Kim tự tháp Djoser. Nó có đáy hình chữ nhật, hai cạnh dài 126 m và 106 m, cao 60 m, có 6 bậc, các tầng thu nhỏ về phía trên. Công trình này do
Imhotep
chỉ đạo xây dựng. Ông là một vị quan đầu triều của nhà vua vương triều
thứ 3, năm 2770 trước Công nguyên. Ngoài Kim tự tháp này còn có Kim tự
tháp ở
Meidum và ở
Dashur là những loại có ba bậc cấp. Sau này, chúng được nghiên cứu và phát triển thành Kim tự tháp trơn, tiêu biểu nhất là quần thể
Kim tự tháp ở Giza. Quần thể này bao gồm ba Kim tự tháp lớn, một con nhân sư
Sphinx, 6 Kim tự tháp nhỏ, một số đền đài và 400 Mastaba. Ba Kim tự tháp trên là:
Kim tự tháp Kheops (hay Kim tự tháp lớn tại Giza),
Kim tự tháp Khephren và
Kim tự tháp Mykerinos. Các Kim tự tháp này mang tên các nhà vua của Vương triều thứ 4; các kim tự tháp nhỏ hơn là của các hoàng hậu cùng thời.
Vật liệu xây dựng tháp là đá vôi được khai thác tại chỗ, bên ngoài được phủ lớp đá vôi trắng nhẵn bóng, lấy từ các mỏ đá ở
Tourah, trên hữu ngạng sông Nin, lớp phủ này ngày nay đã bị tróc mất.
Đền thờ
Những đền thờ Ai Cập cổ đại dùng để thờ thần
Mặt Trời.
Thờ thần Mặt Trời cũng chính là thờ vua. Đền thờ thường có một cái cửa
lớn, đường bệ và phù hợp với tính chất của các nghi lễ tôn giáo. Phần
quan trọng thứ hai của đền là khu vực nội bộ của đại điện. Đây là nơi
vua tiếp nhận sự sùng bái của một số người nên không gian được tổ chức
sao cho u uẩn, kín đáo, mang tính thần bí. Đôi khi, đền còn được bao
quanh bởi bức tường thành, ở đây có trổ một cửa gọi là tiền tháp môn
(propylon), sau đó là một con đường lát
đá, rộng 34 m, dài khoảng 140 m, hai bên đặt những con Sphinx, tiếp đến là các tháp bia, tượng vua và tháp môn.
Nhà ở
Vào khoảng
thế kỷ 17 TCN, nhiều loại hình nhà ở được thấy ở thành
Telel Amarna. Có ba loại nhà chính sau :
- Nhà ở ba gian, vật liệu xây dựng là lau sậy và đất sét, mái bằng.
- Nhà cho quan lại, tường gạch cao, mở ba cửa quay ra phố.
- Loại lâu đài, dinh thự có ao cá, vườn cây phía trước, vật liệu dùng
cột gỗ, tường gạch, dầm gỗ, mái bằng và trong nhà có trang trí tranh
tường. Các cung điện của nhà vua có quy mô lớn, nhấn mạnh trục dọc, bên
trong các phòng có nhiều cột, ngoài trục dọc còn có thể có trục phụ. Gỗ
làm cung điện, Ai Cập không có mà được vận chuyển từ Syrie tới.
Xem thêm
****************************************
NGUỒN GỐC VĂN MINH NHÂN LOẠI .

PHẦN 1 .
Từ những manh mối nhỏ về di chỉ 26, do nhà khảo cổ học Winkle để lại trong những ghi chép của mình, nhóm chuyên gia khảo cổ do David M.Rohl dẫn đầu, đã lần theo dấu vết và phát hiện những điều thú vị. Dựa trên những khám phá này, David M.Rohl đã dựng nên bức tranh về sự hình thành và phát triển của nền văn minh thế giới cổ đại từ dấu tích vườn EDEN – vùng đất các vị thần được ghi chép trong Kinh Thánh – cho đến những dấu tích rực rỡ của văn minh Ai Cập cổ đại. Với ngôn ngữ mô tả đặc sắc, “Nguồn gốc văn minh nhân loại” như một bộ phim lịch sử sống động được trình chiếu có lớp lang cho người đọc theo dõi từ mốc điểm khởi nguyên của một quá khứ kỳ bí, hấp dẫn đến những chuỗi dài biến động như để giải thích rõ ràng và đầy đủ hơn về nguồn gốc sự phát triển của thế giới nhân loại ngày nay.
Mục lục:
Lời nói đầu Dẫn nhập
Phần 1: Từ sương mù của thời gian
Chương 1: Cuộc tìm kiếm vườn địa đàng
Chương 2: Đất ARATTA
Phần 2: Những anh hùng vĩ đại
Chương 3: Cuộc di cư vĩ đại
Chương 4: Đại hồng thuỷ
Chương 5: Định niên đại hồng thuỷ
Chương 6: Những người tiền hồng thuỷ
Chương 7: Bên kia thời đại hoàng kim
Chương 8: Thiên đường tìm lại
Phần 3: Những tín đồ của HORUS
Chương 9: Những con thuyền của sa mạc
Chương 10: Chủng tộc triều đại
Chương 11: Những nhà sáng lập
Chương 12: Cầu thang lên trời
Chương 13: Đảo ngọn lửa
Chương 14: Sáng thế
Phần 4: Tham khảo
Phụ lục A: Tân niên đại học dành cho Ai Cập thuộc thời kỳ sớm
Phụ lục B: Chiến dịch năm 8 của Sargon
Phụ lục C: Tân niên đại của MESOPOTAMIA.
Nguồn : http://truyen.enterplus.org/doc-truyen-audio/Nguon-Goc-Van-Minh-Nhan-Loai-79.html#.Uaa3QNJHJMg#ixzz2Ujrl07Gm
Bài 1 .
Bài 2 .
Bài 3 .
Bài 4 .
Bài 5 .
-------------------------------------------------------------------------------------------
Toán học thuần túy, theo cách của riêng nó, là thi ca của tư duy logic.
Pure mathematics is, in its way, the poetry of logical ideas.
Albert Einstein .